Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Sơn La.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Con đường Mây trắng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đào Thị Trà
Ngày gửi: 10h:23' 22-08-2025
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đào Thị Trà
Ngày gửi: 10h:23' 22-08-2025
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Con Đường Mây Trắng
Anagarika Govinda
Mục lục
LỜI NGƯỜI DỊCH
Tác giả Lama Anagarika Govinda
PHẦN THỨ NHẤT
PHẦN THỨ HAI
PHẦN THỨ BA
PHẦN THỨ TƯ
PHẦN THỨ NĂM
LỜI CUỐI CỦA NGƯỜI DỊCH
Anagarika Govinda
Con Đường Mây Trắng
Dịch giả : Nguyễn Tường Bách
LỜI NGƯỜI DỊCH
Nguyên tác : Der Weg Der Weissen Wolken
Trong thế kỷ XX, phương Tây có hai người tìm hiểu đất nước Tây
Tạng rất sâu sắc, đó là bà Alexandra David Néel và ông Anagarika
Govinda. Cả hai vị này đã từng sống nhiều năm tại Tây Tạng, từng
tu tập thiền định và đi khắp nơi trong xứ sở huyền bí này hơn bất cứ
người nước ngoài nào khác. Có thể nói họ hiểu Tây Tạng với tất cả
những khía cạnh tâm linh, tâm lý, địa lý nhiều hơn cả phần đông
người Tây Tạng.
Hai vị này đều đã qua đời nhưng họ đã để lại cho thế giới vô số
sách vở về kinh nghiệm suy niệm của họ tại Tây Tạng ngày nay vẫn
còn được đánh giá cao nhất và hậu thế có lẽ cũng sẽ khó có ai vượt
qua được tầm nhìn và kinh nghiệm nội tâm của họ. Điều này thật ra
không phải đáng ngạc nhiên, nếu ta biết rằng hai vị này không phải
là khách hành hương bình thường, mà họ đã thực sự độc cư tu tập
trên các vùng núi non hẻo lánh của Himalaya. Vì lẽ đó mà những gì
họ viết ra không phải chỉ là những nhận xét bằng con mắt thường
tình của một lữ khách, mà là những khám phá và sáng tạo tâm linh
ở xứ sở gió tuyết này.
Trong khoảng hơn mười cuốn sách của họ thì cuốn Der weg der
weissen wolken (Con đường mây trắng) của Govinda là nổi tiếng
hơn cả. Nó là cuốn sách được nhắc nhở, được tham cứu, được tìm
đọc nhiều nhất khi nói về Tây Tạng dưới ngòi bút của một người
phương Tây.
Govinda người Bolivia gốc Đức, nhưng sách ông viết thường bằng
Anh ngữ. Đặc biệt cuốn sách này được ông viết thành hai bản Anh
ngữ và Đức ngữ. Bản Đức ngữ là bản cuối cùng, được sửa chữa và
vì thế qui mô, đầy đủ và chính xác hơn bản Anh ngữ. Ai đã từng đọc
Govinda đều biết văn của ông hùng biện súc tích, nhiều hình ảnh,
nhiều tầng lớp và vì thế người dịch thường gặp nhiều khó khăn để
hiểu hết ý ông
Là một người phương Tây với tính sắc sảo của óc lý luận phân tích
sẵn có, pha lẫn sự huyền bí của một quá trình chứng thực tâm linh
bằng trực giác, Govinda là một con người kỳ lạ và điều đó phản ánh
rõ nét trong cuốn sách này. Vì những lẽ đó, đọc cuốn sách này, phần
nào ta cảm nhận được sự tổng hợp giữa hai cực lý luận và trực giác
trong tâm thức con người phương Đông.
Mặc dù người dịch đã cố gắng hết sức trong khả năng của mình,
nhưng chắc chắn bản dịch này không thể tránh khỏi thiếu sót. Người
dịch mong nhận được sự góp ý chỉ dẫn của tất cả mọi người đọc để
bản dịch được hoàn chỉnh hơn.
Nguyễn Tường Bách.
Anagarika Govinda
Con Đường Mây Trắng
Dịch giả : Nguyễn Tường Bách
Tác giả Lama Anagarika Govinda
Nguyên tác : Der Weg Der Weissen Wolken
Lama Anagarika Govinda là tu sĩ Phật giáo, học giả, giáo sư Phật
học, và họa sĩ người Đức. Thế danh của ông là Ernst Hoffman. Ông
sinh năm 1898 ở Waldheim (Đức) và mất 1985 ở California (Mỹ).
Ông tu theo đạo Phật lúc 18 tuổi. Năm 30 tuổi ông sang Tích Lan và
Miến Điện học đạo rồi sau đó thực hành Mật giáo Tây tạng.
Ông sống ở Darjeeling, dưới chân dãy núi Hy Mã Lạp Sơn trong
nhiều năm, dạy ở Đại học Patna và Shantiniketan, vùng Tây Bengal,
Ấn Độ (Đại học do văn hào Ấn Độ Rabindranath Tagore thành lập),
dạy Phật học tại nhiều đại học ở châu Âu, Á, Phi, và Mỹ, và thành
lập đạo tràng Arya Maitreya Mandala tại Ấn Độ, Đức và Mỹ. Ông
sang Mỹ hành đạo từ năm 1967. Ông được xem như một trong
những người có công lớn đưa Phật giáo vào phương Tây và là nhịp
cầu hiện đại nối liền văn hóa Đông Tây.
Ông để lại nhiều tác phẩm Phật học có giá trị và đựơc dịch ra nhiều
thứ tiếng. Tác phẩm chính của ông là Nền tảng Mật giáo Tây Tạng
(Foundations of Tibetan Mysticism, NXB Samuel Weiser, Mỹ, 1969),
Thái độ tâm lý trong triết học Phật giáo nguyên thủy (The
Psychological Attitude of Early Buddhist Pholosophy, NXB Rider,
Anh, 1969), Con đường mây trắng (The Way of the White Clouds,
NXB Shambala, Mỹ, 1988, được Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách dịch
từ tiếng Đức sang tiếng Việt, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1999), Cấu
trúc nội tại của Kinh Dịch (The Inner Structure of The I Ching, NXB
Weatherhill, Mỹ, 1981), Biểu tượng tâm lý và vũ trụ của các bảo tháp
Phật giáo (Psycho-cosmic Symbolism of the Buddhist Stupa, NXB
Dharma, Mỹ, 1976), Thiền định sáng tạo và tâm thức đa diện
(Creative Meditation and Multi-Dimensional Consciousness, NXB
Quest, Mỹ, 1979), Suy tưởng Phật giáo (Buddhist Reflections, NXB
Samuel Weiser, Mỹ, 1991), Đạo Phật đi vào cuộc sống phương Tây
(Living Buddhism for the West, NXB Shambala, Mỹ, 1990).
Anagarika Govinda
Con Đường Mây Trắng
Dịch giả : Nguyễn Tường Bách
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG LINH ẢNH
LINH ẢNH TẠI ĐỀN TSAPARANG
Mặc chiếc áo hữu hiện
Chân Như bị hạn chế.
Lấy dạng hình thi ca,
Vận động nhẹ như bông
.
(Rabindranath Tagore)
Đó là một đêm đầy giông bão trên cổ điện hoang tàn tại Tsaparang,
ngày xưa là thủ phủ của một vương quốc hùng hậu của miền tây
Tây Tạng. Mây kéo nhau qua dầy đặc trên bầu trời, làm vầng trăng
tròn khi chiếu rọi khi biến mất, để cho ánh trăng, như phát ra từ một
chiếc đèn ma quái, nhảy múa trên một sân khấu khổng lồ, diễn lại
lịch sử của một bi kịch bất tử. Tôi nói “bất tử” vì đó là bi kịch miên
viễn của sự hoại diệt, của sự phục hưng trong trò chơi kỳ diệu của
sức mạnh và thiện mỹ, của vẻ rực rỡ thế gian và của thành tựu tâm
linh.
Sức mạnh đã suy tàn nhưng vẻ đẹp vẫn còn vương trên cung điện
hoang phế, còn nằm yên trong những tác phẩm nghệ thuật, chúng
đã được tạo thành bằng sự kiên trì và nhẫn nhục, trong bóng tối của
một thời thịnh trị. Cái rực rỡ và hùng mạnh đã trở thành cát bụi, cái
thần của văn hóa và niềm xác tín tôn giáo đã rút lui trong sự độc cư
xa lánh cuộc đời, chúng còn hiện diện trong ngôn ngữ từ hay tác
phẩm của thánh nhân, thi sĩ hay đạo sư và qua đó mà khẳng định lại
lời của Lão Tử, rằng cái mềm yếu mới sống còn, cái cứng mạnh chỉ
thuộc về cõi chết.
Số phận của Tsaparang đã an bài. Công trình của con người và tạo
tác của thiên nhiên hầu như không còn phân biệt được nữa. Cổ điện
đã biến thành cát đá và cát đá vươn lên như cung điện uy nghi.
Toàn bộ ngọn núi hùng vĩ hiện ra như một tảng đá cẩm thạch vĩ đại,
trong đó khắc họa một thành quách hoang đường: với lâu đài và
cung điện, với tháp với vách, cao như muốn đụng đến mây, dựng
đứng trên vách đá thẳng cheo leo, như một tổ ong với hàng trăm
hàng ngàn ngăn hộc.
Ánh trăng mờ tỏ chiếu rọi làm cảnh vật hầu như vô thực và thêm
đáng sợ, trong đó mọi sự đột nhiên biến mất, nhanh như chúng đã
xuất hiện.
Ngôi đền màu đỏ thờ Phật Thích-Ca Mâu-Ni chìm trong bóng tối tĩnh
lặng. Chỉ riêng khuôn mặt bức tượng vàng to lớn Thích-Ca Mâu-Ni
hầu như tỏa ra một thứ ánh sáng êm dịu, ánh sáng này được tiếp
nhận và phản chiếu bởi tượng của các vị Thiền Phật ở bên cạnh tả
hữu của Ngài.
Bỗng nhiên tường vách của ngôi đền bắt đầu rung động và tiếng ầm
ầm đáng sợ của đá đổ vang lên. Hộp gỗ đựng đèn thờ Phật ThíchCa bỗng vỡ tung và khuôn mặt tượng Phật rực sáng ánh trăng, cả
ngôi đền được chiếu sáng rực.
Cả không gian bỗng đầy tiếng than thở, hầu như cả ngôi đền rên rĩ
dưới sức nặng của bao thế kỷ.
Một kẽ nứt to lớn hiện ra trên bức tượng bên cạnh bức họa nữ thần
sắc trắng Tara và gần đụng một cánh hoa nằm cạnh tòa sen của
thần.
Thần thức sống trong cánh hoa hoảng sợ nhảy ra khỏi trú xứ của
mình, hai tay chắp lại hướng về thần Tara:
“Hỡi thần, kẻ cứu độ mọi loài sinh linh, hãy cứu chúng con và ngôi
đền thiêng liêng này, đừng để bị hoại diệt!”
Với cặp mắt từ bi, Tara nhìn chỗ phát tiếng nói và hỏi: “Ngươi là ai,
thần thức nhỏ bé kia?”
“Con là thần thức của cái đẹp, trú trong cánh hoa bên cạnh Ngài”.
Tara nở một nụ cười đẹp như người mẹ và chỉ vào một góc khác
của ngôi đền: “Trong các lời giáo hóa quí báu hiện được cất chứa
trong các bộ kinh có một kinh mang tên Bát-Nhã Ba-la-mật. Trong đó
có lời dạy sau đây của Đức Thế Tôn.
Cần phải quán như sau:
"như đám mây trôi nổi,
như sao sớm bầu trời,
như ánh lửa vô thường,
như sóng nước suy tàn,
như bóng ma, ảo ảnh,
như giấc mộng chóng tan."
Thần thức cánh hoa nước mắt đầy tròng: “Ôi, những lời này chân
thực biết bao, hết sức chân thực, hết sức thiện mỹ! Và nơi đâu có vẻ
đẹp, dù cho chỉ một lần để ánh mắt ngời sáng, là ở đó có một dây
đàn bất tử dã rung lên trong ta. Vâng, chúng ta đều ở trong cơn đại
mộng, và ta hy vọng cuối cùng sẽ thức tỉnh, như Như Lai, Đức Thế
Tôn, vì lòng từ bi đã xuất hiện trong “dạng mộng” của Ngài để đưa
chúng ta đến giác ngộ”.
Khi nói như thế, thần thức của cái đẹp nghiêng mình hướng về
Thích-Ca Mâu-Ni, mà tượng Ngài cũng như tất cả mọi hình tượng
khác của ngôi đền, trong phút giây kỳ diệu này đã trở thành sống
động.
“Không phải vì con thôi”, thần thức nói tiếp, “mà con xin Ngài cứu
độ. Con biết tất cả mọi sắc thể đáng sống nơi đây sẽ hoại diệt - cũng
như những lời dạy của Đức Như Lai chứa trong các kinh bản bám
bụi đã nói. Điều con mong cầu là: đừng để cho các kinh điển đó mất
đi trước khi chúng ta truyền được thông điệp vĩ đại đã ghi trong đó.
Con lạy Ngài, hỡi mẹ của tất cả sinh linh, của tất cả các vị Phật, hãy
có lòng từ bi với tất cả mọi người chỉ vướng ít bụi trong mắt, những
người có thể thấy và hiểu được, chỉ cần chúng ta ở lâu thêm một
chút trong dạng đại mộng của mình, để cho thông điệp của chúng ta
đến được với họ, hay trao được cho những người có thể phổ biến
thêm ra, vì ích lợi của mọi loài hữu tình.
Đạo sư của chúng ta là Thích-Ca Mâu-Ni ngày xưa cũng được các
thiên nhân khẩn cầu, khoan hãy nhập Đại Niết bàn khi Ngài đạt giác
ngộ vô thượng. Hãy cho con được cầu khẩn Ngài với lý do như thế,
xin được quy y với Ngài và với vô số dạng hình của Ngài”.
Thần thức lại cúi mình, hai tay chắp trước trán, trước hình tượng uy
nghi sáng rực của Phật Thích-Ca Mâu-Ni và tất cả chư Phật và Bồtát tề tựu xung quanh.
Thần Tara nhắc tay bắt ấn cứu độ và khuôn mặt sáng rực của ThíchCa Mâu-Ni mỉm cười đồng ý. “Thần thức của cái đẹp đã nói lên sự
thực, tâm của thần thức đày lòng thành khẩn. Vì làm sao khác
được? Không phải cái đẹp là kẻ chuyên chở và phụng sự cho Chân
như sao? Cái đẹp là nơi thể hiện của sự hòa điệu mọi dạng hình, dù
đó là sắc thấy được hay âm nghe được, dù đó là vật chất hay phi
vật chất. Dù mọi dạng hình là vô thường nhưng sự hòa điệu, điều
mà các dạng đó trình bày và thể hiện, thuộc về vương quốc bất tử
của tâm, thuộc về quy luật sâu kín nhất của Chân như mà ta gọi là
Pháp.
Nếu ta không diễn đạt Pháp vĩnh cửu đó bằng sự hòa điệu hoàn hảo
trong ngôn từ và tư tưởng, thì ta cũng đã không thông qua thần thức
của vẻ đẹp mà kêu gọi loài người, giáo pháp của ta đã không rung
động tim óc họ, giáo pháp đó đã không sống nổi một thế hệ.
Ngôi đền này sẽ sụp đổ cũng như các kinh sách nằm trong các góc
nọ sẽ tàn tạ, đó là những kinh sách mà các đệ tử của ta đã chép lại,
với sự nghiêm túc và nhiệt thành vô lượng. Nhưng những người
khác cũng đã chép lại, từng chữ một, cho nên dù các văn bản này
có thể bị hủy hoại, giáo pháp vẫn tiếp tục được truyền bá. Cũng như
thế, mong sao các công trình khác của nghệ sĩ hay thánh nhân, các
vị đã làm nên ngôi đền thiêng liêng này, sẽ được bảo toàn cho
những thế hệ sau.
Hỡi thần thức cái đẹp, mong ước của ngươi sẽ được toại nguyện.
Dạng hình của ngươi cũng như tất cả các dạng hình sống trong đền
này sẽ không bị hủy hoại, bao lâu thông điệp cả các ngươi chưa đến
với thế gian, thì bấy lâu mục đích thánh thiện của các ngươi chưa
được toàn vẹn”.
LINH ẢNH CỦA ĐẠO SƯ
Trên hàng ngàn ngọn núi,
Nơi đỉnh cao cô quạnh,
Một mái lều xa vắng,
Nửa lều, chỗ sư ở,
Nửa kia dành cho mây.
Nửa đêm giông bão tới,
Thổi đám mây đi xa.
Có bao giờ mây hỏi,
Mình ở lâu nơi nào?!
Ryowan
Lạt ma Ngawang Kalsang sống độc cư mười hai năm trong hang
động cheo leo, tu tập thiền định. không ai biết ông là ai, không ai
nghe nói gì về ông. Ông là một trong hàng ngàn tu sĩ vô danh đã
được tu học tại một trong những tu viện lớn nhất (Garden) gần
Lhasa. Mặc dù đạt được học vị Gésché (tiến sĩ khoa học nhân văn)
nhưng ông nhận thức rằng, muốn thực hiện những gì đã học, mình
cần phải sống trong sự cô tịch và độc cư trong thiên nhiên - xa rời
mọi tiếng ồn ào của chợ búa cũng như đời sống thường nhật của
một tu sĩ trong các tu viện lớn hay trong không khí trí thức của các
đại học tôn giáo.
Thế gian đã quên ông cũng như ông đã quên thế gian - không phải
ông thờ ơ với thế gian mà ngược lại, ông đã không còn thấy giữa
mình và thế giới có cái gì khác biệt. Điều mà ông thức sự quên
không phải là thế gian mà là chính bản thân mình - vì “thế giới”chỉ có
thật trong quan hệ với cái “tôi”.
Dã thú hay đến hang động thăm ông và trở thành bạn với ông. Tâm
ông rộng mở với tất cả mọi sinh vật, với mọi loài biết đau xót trong
sự thông hiểu sâu xa. Vì lý do đó mà ông không hề cảm thấy bị quên
lãng trong cuộc sống độc cư và hưởng sự an lạc trong niềm vui tự
tại, sự an lạc xuất phát từ tri kiến cao quí do thiền định mang lại.
Ngày nọ có một người chăn cừu, khi đi tìm thảo nguyên mới cho
đàn cừu của mình, đã lạc trên núi cao, nghe tiếng chuông damaru
đánh nhịp nhàng, đó là tiếng chuông mà các vị lạt ma và du sĩ khổ
hạnh thường đánh lên trong lúc tụng niệm, lẫn với tiếng khánh bạc.
Lúc đầu ông tưởng minh nghe lầm vì ông cho rằng không người nào
có thể sống trong cảnh cô quạnh thế này được. Đến khi nge rõ tiếng
chuông, ông bắt đầu thấy sợ; vì nếu chuông không phải do người
đánh lên thì chắc hẳn do một sức mạnh huyền bí.
Bị cuốn hút giữa sợ hãi và tò mò, cuối cùng ông đi theo tiếng
chuông, như có một lực nam châm nào không thể cưỡng lại kéo
mình đi và không bao lâu sau ông thấy hình dáng của một vị độc cư
ngồi thiền định sâu lắng trước hang động. Thân người đó gầy nhưng
không khô héo, khuôn mặt hầu như chứa đầy sự bình an tươi sáng,
sáng rực một thứ lửa của sự toàn tâm nội tại. Người chăn cừu liền
hết sợ hãi và sau khi vị độc cư chấm dứt thiền quán, ông đến gần,
đầy lòng kính trọng và xin ban phước.
Khi vị độc cư rờ tay trên đầu thì ông thấy thân mình dường như có
một luồng khí lực chạy qua và một niềm an lạc không thể tả được
đến nỗi ông quên hết những gì mình muốn hỏi và vội vã chạy về
bình nguyên để loan truyền cho mọi người biết sự khám phá quí báu
của mình.
Lúc đầu mọi người không ai tin chuyện này, nhưng khi ông đưa họ
lên động của vị độc cư thì tất cả đều ngạc nhiên tột độ. Làm sao con
người có thể sống trong cảnh hoang dã này được? Ông lấy thực
phẩm ở đâu, không ai biết đến ông? Làm sao ông qua nổi giá lạnh
của mùa đông, khi núi rừng đầy ngập băng tuyết, dù cho có chút
chất đốt ít ỏi như rễ cây cũng không đủ, chứ đừng nói đến có thức
ăn hay không. Điều chắc chắn là chỉ một tu sĩ khổ hạnh với năng lực
siêu nhân mới có thể sống trong môi trường này được.
Mọi người quỳ xuống chân ông và khi ông ban phước, họ thấy mình
như được chuyển hóa - như thấy chính bản thân mình là bình chứa
cho một niềm an lạc siêu thế và một hạnh phúc chưa từng có. Ông
đã cho họ nếm vị của cái mà mỗi người đều có thể đạt đến, khi mà
ta ý thức được năng lực tiềm tàng trong ánh sáng, như năng lực của
hạt giống nằm sâu trong tự thân. Với phước lành, vị lạt ma độc cư
chia sẻ cho mọi người sự chứng thực của chính mình, để khuyến
khích họ đồng hành với mình.
Tin tức về vị độc cư kỳ diệu đó loan truyền dưới lũng như một mồi
lửa. Thế nhưng chỉ thanh niên khỏe mạnh mới dám xông pha leo lên
hang động xa xôi đó; còn những người khác vì già yếu không thể đi
được, nhưng cũng cần đến khai thị tâm linh, họ cầu khẩn xin vị độc
cư hãy xuống bình nguyên để ban phước cho những ai cần đến.
Dười bình nguyên chỉ có một ngôi đền nhỏ, xơ xác với vài tu sĩ, có
tên là “Đền sò trắng” (Dungkar Gompa). Nó nằm trên một đỉnh đồi
đá, giữa một vùng bình nguyên mầu mỡ lúa mì (vì thế có tên là
Tomo, có nghĩa là “đồng lúa mì”). Ngôi đền này bây giờ được trao
cho vị lạt ma độc cư, vị này từ nay mang tên là Tomo Géshé
Rimposché, có nghĩa là “Bảo ngọc của tri kiến tại đồng lúa mì”.
Không bao lâu sau nhiều tu sĩ và cư sĩ xa gần đèu kéo đến Dunkar,
để học hỏi dưới chân Tomo Géshé và chỉ sau một thời gian ngắn thì
đền Sò trắng trở thành một nơi tu học tâm linh và là trung tâm tôn
giáo quan trọng, với đền đài xinh đẹp và phòng ốc rộng rãi. Trong
phòng lớn của chính điện Tomo Géshé cho dựng một bức tượng
vàng Di Lặc rất lớn, vị Phật tương lai, vị Từ thị, là biểu tượng của
tâm linh tương lai và của sự tái sinh chính pháp bất diệt, chính pháp
đó thể hiện trong mọi kẻ giác ngộ và phải được tìm thấy lại trong trái
tim của mỗi con người.
Tuy thế Tomo Géshé chưa hài lòng với thành quả của mình tại
Dungkar. Ông cho dựng tượng Di Lặc ở nhiều nơi khác, để nhắc
nhở người theo Phật rằng không nên yên nghỉ trong sự huy hoàng
của quá khứ mà còn phải chủ động tham gia xây dựng tương lai,
trong tinh thần đạt tới sự thành tựu cuối cùng mà ai cũng có, là
chuẩn bị cho sự xuất hiện của vị Phật sắp đến.
Thế nhưng một biến cố xảy ra, nó cũng bất ngờ và kỳ lạ như việc
khám phá và trở lại thế gian của vị lạt ma độc cư, biến cố này đã
gián đoạn công trình đang được thực hiện của ông. Nguyên do của
biến cố này là một lời tiên tri cao cấp tại Lhasa, đòi Tomo Géshé
phải đi hành hương tại Tschorten Nyima, một nơi chốn trở nên
thiêng liêng nhờ Liên Hoa Sinh[1]. Liên Hoa Sinh là người đầu tiên
đem đạo Phật đén Tây Tạng, cho đạo Phật một nền tảng vững chắc
hằng cách thiết lập tu viện đầu tiên (Samyé) và đưa kinh sách Phật
giáo vào ngôn từ Tây Tạng. Công trình này được tiếp tục bởi nhà
phiên dịch Rintschen Sangpo, vị này sẽ được nhắc đến về sau.
Những điều này đặc biệt quan trọng đối với chúng ta vì chúng nêu rõ
rằng, một trong những biến cố quan trọng trong đời của Tomo
Géshé là liên hệ với thời kỳ thành lập của Phật giáo Tây Tạng, và tại
miền tây Tây Tạng, nhất là tại Tsaparang, nó đóng một vai trò quan
trọng
***
Tschorten Nyima nằm ở một trong những vùng cao nhất của cao
nguyên Tây Tạng, gần biên giới Bắc Sikkim, trên một vùng cao
nguyên khoáng đãng, uốn lượn nhẹ nhàng, tiếp cận với phía Nam
của những đỉnh tuyết Hymalaya, những đỉnh này hầu như xuyên
thủng bầu trời xanh đậm tiêu biểu ở đây. Đây là nơi mà Trời và Đất
gặp nhau trong một mức độ vĩ đại và đáng kính sợ như nhau: nơi
mà cảnh vật của Đất có cái vô tận và nhịp điệu của đại dương và
Trời có chiều sâu của không gian. Đó là nơi mà con người thấy mình
gần hơn với các thiên thể, nơi mà mặt trời mặt trăng là láng giềng và
ngàn sao là bạn.
Và cũng nơi đây đã xảy ra điều đó, cá vị Phật và Bồ-tát quả nhiên đã
gây cảm hứng cho cá nghệ nhân Tsaparang, để dưới tay họ xuất
hiện những dạng hình thấy được, báo thân các vị đó đã xuất hiện ra
trước mắt của Tomo Géshé. Trong màu xanh đậm của bầu trời, các
vị đã xuất hiện ở dạng như kết nên bằng ánh sáng, rực rỡ trong mọi
sắc của cầu vồng, di chuyển chầm chậm trong bầu trời, từ chân trời
phía đông qua phía tây.
Sự xuất hiện này lúc đầu chỉ thấy được với Tomo Géshé. Nhưng,
như một nghệ sĩ lớn biết làm cho người khác thấy được linh ảnh của
mình bằng cách vẽ lại những hình ảnh xuất hiện trong nội tâm trên
giấy mực, thì cũng thế mà vị đạo sư nhờ sự sáng tạo của tâm mình
mà làm cho linh ảnh này trở nên thấy được với mọi người hiện diện.
Không phải tất cả ai cũng cảm nhận linh ảnh được như nhau trong
các chi tiết, vì mực độ cảm thọ mỗi người một khác.
Đối với ai không chứng được điều này - thậm chí cả với người đã tự
mình chứng thực - thật không thể mô tả vẻ đệp của linh ản này bằng
lời hay nói lên được ấn tượng sâu sắc còn lại trong tâm người thấy.
Trong kinh Lăng Nghiêm [2] có đoạn mô tả một biến cố tương tự,
nơi đây được ghi lại để độc giả có thể hình dung về những gì mà
Tomo Géshé và các người đi cùng đã thấy.
“Phật Thích-Ca Mâu-Ni ngự giữa chư Phật và Bồ-tát của mười
phương thế giới và chiếu tỏa hào quang siêu thế của Ngài trên toàn
thể chư vị. Từ tứ chí cũng như báo thân Ngài toát ra ánh sáng mầu
nhiệm, đọng lại trên đỉnh đầu của chư vị Phật và Bồ-tát.
Và cũng thế, hào quang phát ra từ tứ chí và báo thân của chư Phật
và Bồ-tát của mười phương thế giới đọng lại trên đỉnh đầu của Phật
Thích-Ca Mâu-Ni, cũng như trên đỉnh đầu của mọi vị Phật, Bồ-tát và
thánh nhân khác đang hiện diện.
Đồng thời sóng nước của muôn vàn nguồn suối vang lên bài ca
chính pháp và vô số những ánh hào quang siêu thế đó diệt nên một
tấm lưới ngọc, trùm khắp thế gian.
Con mắt trần thế chưa ai được nhìn thấy một cảnh quan tuyệt diệu
như thế, cảnh quan giữ mọi người hiện diện trong sự im lặng kính
sợ. Và trước khi mọi người hiểu ngộ điều gì đang xảy ra thì họ đã
được đưa vào trạng thái an lạc của đại định. một cảm giác hỉ lạc của
sự giải thoát và an bình thấm nhuần tất cả mọi người như một cơn
mưa hoa ngũ sắc, hầu như chúng phản ánh sắc màu óng ánh của
không gian rộng mở trong thân mình.
Tất cả các dạng hình khác biệt của núi sông, của hoa của đá, cẻ vạn
sự tan chảy hòa chung làm một và biến mất, để chỉ còn một sự
chứng thực cái nhất thể uyên nguyên; nó không phải là sự cứng
nhắc đơn điệu mà chứa đầy sự rung động của sức sống và ánh
sáng, đầy tiết điệu hoàn hảo, đầy âm thanh của thành hoại, chứa
dựng lẫn nhau, dung thông cho nhau và cuối cùng tan hòa trong thể
tịch tịnh vĩ đại”.
Dòng tâm thức an tịnh,
tràn ngập niềm an lạc.
Rỗng rang và trong suốt,
xuyên suốt cả không gian.
Đợt sóng vòng tròn nọ,
không còn nhấp nhô nữa.
Như tiết điệu cuối cùng,
buổi hòa âm thiên nhạc.
Âm thanh đã ngưng bặt,
tĩnh lặng thành âm nhạc.
Ánh sáng chiếu rực rỡ,
bóng tối đã biến mất [3]
Những biến cố này tuy hiếm có nhưng không phải duy nhất và có lẽ
tuân theo một qui luật nội tại nào đó, dường như chứa đựng yếu tố
giống nhau. Thế nhưng linh ảnh tại Tschorten Nyima là một trường
hợp lạ lùng trong lịch sử các biến cố tâm lý, trong đó linh ảnh này
không phải chỉ là một sự chứng thực chủ quan của một cá nhân - và
vì thế không kiểm chứng được - mà được một số lớn nhân chứng
xác nhận và ghi vào sách vở [4]
Điều này đã xảy ra sau khi những người hành hương Tschorten
Nying về lại, trong đó mỗi người kể lại những gì mình nghe thấy,
theo mô tả của nhân chứng và được sự chấp nhận của vị đạo sư
(sau khi học trò yêu cầu đã đồng ý) thì những cảnh tượng này đã
được một nghệ nhân có tài tại Tschorten Nyima vẽ lại trong một bích
họa lớn tại tu viện ở Dungkar.
Một trong những nhân chứng của biến cố đáng ghi nhớ này là vị sư
trưởng cuối cùng của Dungkar Gompa, ông là người lãnh đạo tu
viện này cho tới khi Tomo Géshé Rimpotsché tái sinh. Không những
cho chụp hình bức họa quí báu này, ông giải thích mọi chi tiết của
bức tranh, cũng như kể lại mọi biến cố trong lần đi hành hương đó.
Ông mô tả mình dã tận mắt thấy như thế nào cũng như kể những
điều mà ông không đủ sức thấy được, chỉ nghe người khác kể lại.
Ông nhắc lại sự thực hiếm có là một linh ảnh mà thấy được nhiều
giờ để cho ai đã thấy đều ghi nhớ sâu xa được, và để cho mọi người
trao đổi và chỉ dẫn cho nhau.
Tôi xin nhắc thêm là người Tây Tạng không xem linh ảnh là sự bày
tỏ thiêng liêng của thực tại cuối cùng mà biết đến tính tương đối và
nguồn gốc tâm lý của những linh ảnh đó. Trong Đại Thừa Khởi tín
luận, ta thấy: “Khi người học đạo thấy linh ảnh của thiên thần, Bồ-tát
và Như Lai, xung quanh là ánh sáng rực rỡ thì họ nên nghĩ rằng, đó
cũng là do tâm tạo và không có thực tính”.
Nhưng bao lâu nó còn là sự thực tương đối do tâm tạo tác thì bấy
lâu sự sáng tạo đó là “thực”, tức là có một năng lực thực. Chúng
sinh thành và hoại diệt như mỗi một tác phẩm nghệ thuật, chúng
được sinh ra từ chứng thực cao nhất của tâm và dù chúng không có
thực tính, không chứa thực tại tự thân thì chúng vẫn chứa những
biểu tượng, mà dạng của những biểu tượng đó cứ luôn trở lại để chỉ
đường, để nhắc nhở ta đến cái thành tựu cao tột, đến sự giác ngộ.
Vì thế trong các kinh sách (nhất là kinh sách Mật tông Tantra) luôn
luôn ta được nhắc nhở phải tránh hai cực đoan, một bên cho linh
ảnh của những tầng lớp ý thức cao là thực tại cuối cùng - nếu bị như
thế ta sẽ vướng nơi chúng và kẹt giữa đường, - còn bên kia phủ
nhận mọi tính cách có thực của chúng, cho chúng chỉ hoàn toàn do
tâm tạo. Nếu thế chúng ta sẽ nhận thức sai về vai trò quyết định của
tâm thức cũng như khả năng tiềm tàng cẻ nó và đánh mất một
phương tiện quí báu của sự tiến bộ.
Tomo Géshé rất ý thức về hai cực đoan này của tư tưởng con người
cho nên khi học trò xin vẽ lại những linh ảnh tại Tschorten Nyima để
truyền lại cho đời sau thì ông đồng ý nhưng không quên nhắc đến
sai lầm khả dĩ là, tưởng một dạng xuất hiện nào đó là thực thể cuối
cùng. Những linh ảnh này đã có ảnh hưởng lớn lao đến Tomo
Géshé và học trò của ông. Những linh ảnh đó cho ông một thẩm
quyền mà tại Tây Tạng, các vị tái sinh (Tulku) mới có, đó là những vị
chứa tâm Bồ-tát, có thệ nguyện kiên định là lấy hiện thân làm sinh
vật, các vị đó có quyền năng chủ động tái sinh trong tương lại, có
đầy đủ điều kiện cần thiết, để mang lại lợi ích cho con người.
Kết quả trực tiếp của linh ảnh tại Tschorten Nyima là Tomo Géshé
cảm thấy mình không chỉ có trách nhiệm với dân tộc và đất nước
mình trong việc trao truyền pháp giác ngộ, mà cả thế giới bên ngoài,
không phân biệt chủng tộc, giai cấp hay tôn giáo. Vì thế mà ông bỏ
bình nguyên yên tĩnh của mình để đi đến các nước quanh vùng
Himalaya. Và bất cứ nơi đâu đặt chân đến, ông gieo trồng niềm tin
và hy vọng trong lòng mọi người. Ông cứu giúp kể bệnh tật chỉ băng
cách rờ đến họ và bằng sức mạnh tâm ý mình, ông giảng đạo pháp
thiêng liêng, làm cho họ “vui thích lúc đầu, vui thích lúc giữa, vui
thích lúc cuối”[5]; ông khai thị cho những ai sẵn sàng đón nhận sự
thực của Pháp và có khi phải bỏ lại đồ đệ của mình để lên đường
mang chính pháp đi truyền bá cũng như đã vì thế mà ông đã bỏ
thung lũng hiền hòa của mình ra đi.
TU VIỆN YI-GAH TSCHOLING
Để hiểu ý nghĩa của đời sống chúng ta, để nhận rõ những mối dây
và hình ảnh kỳ lạ đan chằng chịt trong số phận của mình (theo quan
điểm Phật giáo, đó là kết quả của Nghiệp, tất cả tạo tác của ta trong
quá khứ), thỉnh thoảng ta phải nhìn lui để thấy những mối dây của
mạng lưới này, cái mà ta gọi là cuộc đời, xuất phát từ đâu, chạy như
thế nào. Một cái nhìn, vài tiếng nói vô bổ, vài tiết điệu rời rạc vang
lên trong một đêm hè yên lặng; một cuốn sách tình cờ đến tay ta,
một bài thơ, một mùi hương gọi nhớ - tất cả những ấn tượng dường
như tình cờ đó có thể sinh ra năng lực làm thay đổi và quyết định cả
cuộc đời tương lai của ta hay là chìa khóa mở ra cho thấy những bí
ẩn sâu xa nằm trong quá khứ.
Khi viết những dòng này, xung quanh tôi là mùi hương dầu của loại
nhang Tây Tạng và gợi cho tôi nhớ lại nơi chốn mà lần đầu tôi ngửi
đến nó. Tôi thấy mình ngồi trong điện của một tu viện Tây Tạng,
được chiếu sáng bằng đèn dầu, xung quanh mình là một loạt những
hình tượng lạ lùng, một số thì hiền hòa an lạc, số khác thì dữ tợn
phẫn nộ và số khác nữa thì xem ra kỳ dị và bí ẩn. Như xuất phát từ
cõi không gian nào đầy bóng tối, các hình tượng đó chiếm đầy nội
thất của ngôi đền. Nhìn tổng thể, hầu như các tượng đó có một sự
sinh động, một sự hòa điệu giữa màu sắc và tiết điệu, chúng phản
ánh cái đa diện phong phú của một nhất thể bao trùm.
Tôi đã vào trú ẩn tại tu viện này trong một ngày dông bão dữ dội, nó
cắt đứt tất cả mói liên lạc với bên n goài và chôn vùi cảnh vạt mùa
hè dưới băng tuyết. Sự bất ngờ và năgn lực của trận bão đầy tuyết
và mưa đá thật lạ lùng, đến nỗi cả người già cả ở vùng này cũng
chưa hề thấy lần nào tương tự trong đời mình và đối với tôi là kể
vừa đến từ Sri-Lanka, mang y vàng của một tu sĩ Thượng tọa bộ,
choàng chiếc khăn nhẹ, chân mang dép mỏng, thì tất cả hiện ra có
vẻ ma quái hay một cơn mơ kỳ dị.
Còn tu viện - nằm trên cao dãy Darjeeling, xung quanh là thung lũng
- trên chỏm núi chơ vơ, như một trái bóng để các đám mây đang
gàm thét xô đảy, chúng xuất phát từ chiều sâu nào mà mang theo
hàng ngàn tia chớp và sau đó là một loạt mây từ những đỉnh cao
băng tuyết Himalaya đổ xuống, sự hỗ độn đến như thế là cùng.
Tiếng sấm động vang lên không ngừng, tiếng đổ như trống dọi của
mưa đá trên nóc điện và tiếng gầm rú của dông bão tộn lẫn nhau
như bản hòa tấu của địa ngục.
***
Vì sẽ nhiều ngày nên tôi không rời tu viện được, vị sư trưởng vui vẻ
mời tôi ở cùng phòng với ông. Ông mang cho tôi chăn ấm và cố hết
sức để tôi được thoải mái. Căn phòng nhỏ vì thế mà quá nóng và
đầy khói nhang cũng như mùi củi khô mà thỉnh thoảng vị sư trưởng
ném vào lò sưởi lúc tụng niệm làm tôi hầu như ngạt thở và không
ngủ được. May thay ngày hôm sau, ông cho tôi về ở góc của tu viện
lớn này, mà nơi đó có thể băng qua sân tu viện, nó cách ly ngôi đền
và tòa nhà chính của điện.
Tại sao tôi lại rời bỏ cuộc sống yên lành tại Sri-Lanka, một thiên
đường ấm áp để đi vào một vùng ma quái đầy dông bão của
Himalaya và không khí kỳ lạ của một tu viện Tây Tạng? Chưa bao
giờ Tây Tạng đóng vài trò gì trong kế hoạch của tôi và có sức thu
hút tôi. Đối với tôi, Sri-Lanka đã thỏa mãn tất cả sự mơ ước và vì tôi
đã nghĩ rằng mình sẽ sống tại đó đến cuối đời nên đã xây dựng
ngay giữa đảo một cái cốc - nằn giữa đường từ Kandy và Nuwara
Eliya - trong một vùng sơn cước yên lành với mùa xuân trường cửu,
không bị ánh nắng màu hè và sức lạnh mùa đong xâm phạm, cây
cối đâm chồi nở lộc quanh năm. Thế nhưng một ngày nọ tôi nhận
được thư mời tham dự một hội nghị quốc tế về Phật giáo tại
Darjeeling với tính cách là đại biểu của Sri-Lanka và làm chủ tọa
điều khiển tiểu ban kinh sách của hội nghị. Mới đầu chần chừ, cuối
cùng tôi nhận lời tham gia. Tôi được động viên bởi ý nghĩ, đây chính
là dịp để trình bày giáo pháp thuần túy của Phật đã được Sri-Lanka
gìn giữ, tại một nơi mà ngôn từ của Phật đã bị một hệ thóng thờ quỉ
thần và niềm tin sai lạc bóp méo.
Và bây giờ tôi ở đây, trong xứ sở kỳ dị của Lạt ma giáo, không nói
được thứ tiếng của họ, không có chút hiểu biết nào về ý nghĩa của
vô số hình ảnh và biểu tượng, chúng nằm đầy trên các bích họa
cũng như tượng hình quanh tôi. Chỉ các tượng Phật và Bồ-tát là tôi
quen. Nhưng khi ngay đó đến, ngày mà bầu tời xanh lại và người ta
có thể liên lạc với bên ngoài, và không có gì ngăn cản tôi rời
Darjeeling trở về với Sri-Lanka thoải mái thì tôi không còn muố...
Anagarika Govinda
Mục lục
LỜI NGƯỜI DỊCH
Tác giả Lama Anagarika Govinda
PHẦN THỨ NHẤT
PHẦN THỨ HAI
PHẦN THỨ BA
PHẦN THỨ TƯ
PHẦN THỨ NĂM
LỜI CUỐI CỦA NGƯỜI DỊCH
Anagarika Govinda
Con Đường Mây Trắng
Dịch giả : Nguyễn Tường Bách
LỜI NGƯỜI DỊCH
Nguyên tác : Der Weg Der Weissen Wolken
Trong thế kỷ XX, phương Tây có hai người tìm hiểu đất nước Tây
Tạng rất sâu sắc, đó là bà Alexandra David Néel và ông Anagarika
Govinda. Cả hai vị này đã từng sống nhiều năm tại Tây Tạng, từng
tu tập thiền định và đi khắp nơi trong xứ sở huyền bí này hơn bất cứ
người nước ngoài nào khác. Có thể nói họ hiểu Tây Tạng với tất cả
những khía cạnh tâm linh, tâm lý, địa lý nhiều hơn cả phần đông
người Tây Tạng.
Hai vị này đều đã qua đời nhưng họ đã để lại cho thế giới vô số
sách vở về kinh nghiệm suy niệm của họ tại Tây Tạng ngày nay vẫn
còn được đánh giá cao nhất và hậu thế có lẽ cũng sẽ khó có ai vượt
qua được tầm nhìn và kinh nghiệm nội tâm của họ. Điều này thật ra
không phải đáng ngạc nhiên, nếu ta biết rằng hai vị này không phải
là khách hành hương bình thường, mà họ đã thực sự độc cư tu tập
trên các vùng núi non hẻo lánh của Himalaya. Vì lẽ đó mà những gì
họ viết ra không phải chỉ là những nhận xét bằng con mắt thường
tình của một lữ khách, mà là những khám phá và sáng tạo tâm linh
ở xứ sở gió tuyết này.
Trong khoảng hơn mười cuốn sách của họ thì cuốn Der weg der
weissen wolken (Con đường mây trắng) của Govinda là nổi tiếng
hơn cả. Nó là cuốn sách được nhắc nhở, được tham cứu, được tìm
đọc nhiều nhất khi nói về Tây Tạng dưới ngòi bút của một người
phương Tây.
Govinda người Bolivia gốc Đức, nhưng sách ông viết thường bằng
Anh ngữ. Đặc biệt cuốn sách này được ông viết thành hai bản Anh
ngữ và Đức ngữ. Bản Đức ngữ là bản cuối cùng, được sửa chữa và
vì thế qui mô, đầy đủ và chính xác hơn bản Anh ngữ. Ai đã từng đọc
Govinda đều biết văn của ông hùng biện súc tích, nhiều hình ảnh,
nhiều tầng lớp và vì thế người dịch thường gặp nhiều khó khăn để
hiểu hết ý ông
Là một người phương Tây với tính sắc sảo của óc lý luận phân tích
sẵn có, pha lẫn sự huyền bí của một quá trình chứng thực tâm linh
bằng trực giác, Govinda là một con người kỳ lạ và điều đó phản ánh
rõ nét trong cuốn sách này. Vì những lẽ đó, đọc cuốn sách này, phần
nào ta cảm nhận được sự tổng hợp giữa hai cực lý luận và trực giác
trong tâm thức con người phương Đông.
Mặc dù người dịch đã cố gắng hết sức trong khả năng của mình,
nhưng chắc chắn bản dịch này không thể tránh khỏi thiếu sót. Người
dịch mong nhận được sự góp ý chỉ dẫn của tất cả mọi người đọc để
bản dịch được hoàn chỉnh hơn.
Nguyễn Tường Bách.
Anagarika Govinda
Con Đường Mây Trắng
Dịch giả : Nguyễn Tường Bách
Tác giả Lama Anagarika Govinda
Nguyên tác : Der Weg Der Weissen Wolken
Lama Anagarika Govinda là tu sĩ Phật giáo, học giả, giáo sư Phật
học, và họa sĩ người Đức. Thế danh của ông là Ernst Hoffman. Ông
sinh năm 1898 ở Waldheim (Đức) và mất 1985 ở California (Mỹ).
Ông tu theo đạo Phật lúc 18 tuổi. Năm 30 tuổi ông sang Tích Lan và
Miến Điện học đạo rồi sau đó thực hành Mật giáo Tây tạng.
Ông sống ở Darjeeling, dưới chân dãy núi Hy Mã Lạp Sơn trong
nhiều năm, dạy ở Đại học Patna và Shantiniketan, vùng Tây Bengal,
Ấn Độ (Đại học do văn hào Ấn Độ Rabindranath Tagore thành lập),
dạy Phật học tại nhiều đại học ở châu Âu, Á, Phi, và Mỹ, và thành
lập đạo tràng Arya Maitreya Mandala tại Ấn Độ, Đức và Mỹ. Ông
sang Mỹ hành đạo từ năm 1967. Ông được xem như một trong
những người có công lớn đưa Phật giáo vào phương Tây và là nhịp
cầu hiện đại nối liền văn hóa Đông Tây.
Ông để lại nhiều tác phẩm Phật học có giá trị và đựơc dịch ra nhiều
thứ tiếng. Tác phẩm chính của ông là Nền tảng Mật giáo Tây Tạng
(Foundations of Tibetan Mysticism, NXB Samuel Weiser, Mỹ, 1969),
Thái độ tâm lý trong triết học Phật giáo nguyên thủy (The
Psychological Attitude of Early Buddhist Pholosophy, NXB Rider,
Anh, 1969), Con đường mây trắng (The Way of the White Clouds,
NXB Shambala, Mỹ, 1988, được Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách dịch
từ tiếng Đức sang tiếng Việt, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1999), Cấu
trúc nội tại của Kinh Dịch (The Inner Structure of The I Ching, NXB
Weatherhill, Mỹ, 1981), Biểu tượng tâm lý và vũ trụ của các bảo tháp
Phật giáo (Psycho-cosmic Symbolism of the Buddhist Stupa, NXB
Dharma, Mỹ, 1976), Thiền định sáng tạo và tâm thức đa diện
(Creative Meditation and Multi-Dimensional Consciousness, NXB
Quest, Mỹ, 1979), Suy tưởng Phật giáo (Buddhist Reflections, NXB
Samuel Weiser, Mỹ, 1991), Đạo Phật đi vào cuộc sống phương Tây
(Living Buddhism for the West, NXB Shambala, Mỹ, 1990).
Anagarika Govinda
Con Đường Mây Trắng
Dịch giả : Nguyễn Tường Bách
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG LINH ẢNH
LINH ẢNH TẠI ĐỀN TSAPARANG
Mặc chiếc áo hữu hiện
Chân Như bị hạn chế.
Lấy dạng hình thi ca,
Vận động nhẹ như bông
.
(Rabindranath Tagore)
Đó là một đêm đầy giông bão trên cổ điện hoang tàn tại Tsaparang,
ngày xưa là thủ phủ của một vương quốc hùng hậu của miền tây
Tây Tạng. Mây kéo nhau qua dầy đặc trên bầu trời, làm vầng trăng
tròn khi chiếu rọi khi biến mất, để cho ánh trăng, như phát ra từ một
chiếc đèn ma quái, nhảy múa trên một sân khấu khổng lồ, diễn lại
lịch sử của một bi kịch bất tử. Tôi nói “bất tử” vì đó là bi kịch miên
viễn của sự hoại diệt, của sự phục hưng trong trò chơi kỳ diệu của
sức mạnh và thiện mỹ, của vẻ rực rỡ thế gian và của thành tựu tâm
linh.
Sức mạnh đã suy tàn nhưng vẻ đẹp vẫn còn vương trên cung điện
hoang phế, còn nằm yên trong những tác phẩm nghệ thuật, chúng
đã được tạo thành bằng sự kiên trì và nhẫn nhục, trong bóng tối của
một thời thịnh trị. Cái rực rỡ và hùng mạnh đã trở thành cát bụi, cái
thần của văn hóa và niềm xác tín tôn giáo đã rút lui trong sự độc cư
xa lánh cuộc đời, chúng còn hiện diện trong ngôn ngữ từ hay tác
phẩm của thánh nhân, thi sĩ hay đạo sư và qua đó mà khẳng định lại
lời của Lão Tử, rằng cái mềm yếu mới sống còn, cái cứng mạnh chỉ
thuộc về cõi chết.
Số phận của Tsaparang đã an bài. Công trình của con người và tạo
tác của thiên nhiên hầu như không còn phân biệt được nữa. Cổ điện
đã biến thành cát đá và cát đá vươn lên như cung điện uy nghi.
Toàn bộ ngọn núi hùng vĩ hiện ra như một tảng đá cẩm thạch vĩ đại,
trong đó khắc họa một thành quách hoang đường: với lâu đài và
cung điện, với tháp với vách, cao như muốn đụng đến mây, dựng
đứng trên vách đá thẳng cheo leo, như một tổ ong với hàng trăm
hàng ngàn ngăn hộc.
Ánh trăng mờ tỏ chiếu rọi làm cảnh vật hầu như vô thực và thêm
đáng sợ, trong đó mọi sự đột nhiên biến mất, nhanh như chúng đã
xuất hiện.
Ngôi đền màu đỏ thờ Phật Thích-Ca Mâu-Ni chìm trong bóng tối tĩnh
lặng. Chỉ riêng khuôn mặt bức tượng vàng to lớn Thích-Ca Mâu-Ni
hầu như tỏa ra một thứ ánh sáng êm dịu, ánh sáng này được tiếp
nhận và phản chiếu bởi tượng của các vị Thiền Phật ở bên cạnh tả
hữu của Ngài.
Bỗng nhiên tường vách của ngôi đền bắt đầu rung động và tiếng ầm
ầm đáng sợ của đá đổ vang lên. Hộp gỗ đựng đèn thờ Phật ThíchCa bỗng vỡ tung và khuôn mặt tượng Phật rực sáng ánh trăng, cả
ngôi đền được chiếu sáng rực.
Cả không gian bỗng đầy tiếng than thở, hầu như cả ngôi đền rên rĩ
dưới sức nặng của bao thế kỷ.
Một kẽ nứt to lớn hiện ra trên bức tượng bên cạnh bức họa nữ thần
sắc trắng Tara và gần đụng một cánh hoa nằm cạnh tòa sen của
thần.
Thần thức sống trong cánh hoa hoảng sợ nhảy ra khỏi trú xứ của
mình, hai tay chắp lại hướng về thần Tara:
“Hỡi thần, kẻ cứu độ mọi loài sinh linh, hãy cứu chúng con và ngôi
đền thiêng liêng này, đừng để bị hoại diệt!”
Với cặp mắt từ bi, Tara nhìn chỗ phát tiếng nói và hỏi: “Ngươi là ai,
thần thức nhỏ bé kia?”
“Con là thần thức của cái đẹp, trú trong cánh hoa bên cạnh Ngài”.
Tara nở một nụ cười đẹp như người mẹ và chỉ vào một góc khác
của ngôi đền: “Trong các lời giáo hóa quí báu hiện được cất chứa
trong các bộ kinh có một kinh mang tên Bát-Nhã Ba-la-mật. Trong đó
có lời dạy sau đây của Đức Thế Tôn.
Cần phải quán như sau:
"như đám mây trôi nổi,
như sao sớm bầu trời,
như ánh lửa vô thường,
như sóng nước suy tàn,
như bóng ma, ảo ảnh,
như giấc mộng chóng tan."
Thần thức cánh hoa nước mắt đầy tròng: “Ôi, những lời này chân
thực biết bao, hết sức chân thực, hết sức thiện mỹ! Và nơi đâu có vẻ
đẹp, dù cho chỉ một lần để ánh mắt ngời sáng, là ở đó có một dây
đàn bất tử dã rung lên trong ta. Vâng, chúng ta đều ở trong cơn đại
mộng, và ta hy vọng cuối cùng sẽ thức tỉnh, như Như Lai, Đức Thế
Tôn, vì lòng từ bi đã xuất hiện trong “dạng mộng” của Ngài để đưa
chúng ta đến giác ngộ”.
Khi nói như thế, thần thức của cái đẹp nghiêng mình hướng về
Thích-Ca Mâu-Ni, mà tượng Ngài cũng như tất cả mọi hình tượng
khác của ngôi đền, trong phút giây kỳ diệu này đã trở thành sống
động.
“Không phải vì con thôi”, thần thức nói tiếp, “mà con xin Ngài cứu
độ. Con biết tất cả mọi sắc thể đáng sống nơi đây sẽ hoại diệt - cũng
như những lời dạy của Đức Như Lai chứa trong các kinh bản bám
bụi đã nói. Điều con mong cầu là: đừng để cho các kinh điển đó mất
đi trước khi chúng ta truyền được thông điệp vĩ đại đã ghi trong đó.
Con lạy Ngài, hỡi mẹ của tất cả sinh linh, của tất cả các vị Phật, hãy
có lòng từ bi với tất cả mọi người chỉ vướng ít bụi trong mắt, những
người có thể thấy và hiểu được, chỉ cần chúng ta ở lâu thêm một
chút trong dạng đại mộng của mình, để cho thông điệp của chúng ta
đến được với họ, hay trao được cho những người có thể phổ biến
thêm ra, vì ích lợi của mọi loài hữu tình.
Đạo sư của chúng ta là Thích-Ca Mâu-Ni ngày xưa cũng được các
thiên nhân khẩn cầu, khoan hãy nhập Đại Niết bàn khi Ngài đạt giác
ngộ vô thượng. Hãy cho con được cầu khẩn Ngài với lý do như thế,
xin được quy y với Ngài và với vô số dạng hình của Ngài”.
Thần thức lại cúi mình, hai tay chắp trước trán, trước hình tượng uy
nghi sáng rực của Phật Thích-Ca Mâu-Ni và tất cả chư Phật và Bồtát tề tựu xung quanh.
Thần Tara nhắc tay bắt ấn cứu độ và khuôn mặt sáng rực của ThíchCa Mâu-Ni mỉm cười đồng ý. “Thần thức của cái đẹp đã nói lên sự
thực, tâm của thần thức đày lòng thành khẩn. Vì làm sao khác
được? Không phải cái đẹp là kẻ chuyên chở và phụng sự cho Chân
như sao? Cái đẹp là nơi thể hiện của sự hòa điệu mọi dạng hình, dù
đó là sắc thấy được hay âm nghe được, dù đó là vật chất hay phi
vật chất. Dù mọi dạng hình là vô thường nhưng sự hòa điệu, điều
mà các dạng đó trình bày và thể hiện, thuộc về vương quốc bất tử
của tâm, thuộc về quy luật sâu kín nhất của Chân như mà ta gọi là
Pháp.
Nếu ta không diễn đạt Pháp vĩnh cửu đó bằng sự hòa điệu hoàn hảo
trong ngôn từ và tư tưởng, thì ta cũng đã không thông qua thần thức
của vẻ đẹp mà kêu gọi loài người, giáo pháp của ta đã không rung
động tim óc họ, giáo pháp đó đã không sống nổi một thế hệ.
Ngôi đền này sẽ sụp đổ cũng như các kinh sách nằm trong các góc
nọ sẽ tàn tạ, đó là những kinh sách mà các đệ tử của ta đã chép lại,
với sự nghiêm túc và nhiệt thành vô lượng. Nhưng những người
khác cũng đã chép lại, từng chữ một, cho nên dù các văn bản này
có thể bị hủy hoại, giáo pháp vẫn tiếp tục được truyền bá. Cũng như
thế, mong sao các công trình khác của nghệ sĩ hay thánh nhân, các
vị đã làm nên ngôi đền thiêng liêng này, sẽ được bảo toàn cho
những thế hệ sau.
Hỡi thần thức cái đẹp, mong ước của ngươi sẽ được toại nguyện.
Dạng hình của ngươi cũng như tất cả các dạng hình sống trong đền
này sẽ không bị hủy hoại, bao lâu thông điệp cả các ngươi chưa đến
với thế gian, thì bấy lâu mục đích thánh thiện của các ngươi chưa
được toàn vẹn”.
LINH ẢNH CỦA ĐẠO SƯ
Trên hàng ngàn ngọn núi,
Nơi đỉnh cao cô quạnh,
Một mái lều xa vắng,
Nửa lều, chỗ sư ở,
Nửa kia dành cho mây.
Nửa đêm giông bão tới,
Thổi đám mây đi xa.
Có bao giờ mây hỏi,
Mình ở lâu nơi nào?!
Ryowan
Lạt ma Ngawang Kalsang sống độc cư mười hai năm trong hang
động cheo leo, tu tập thiền định. không ai biết ông là ai, không ai
nghe nói gì về ông. Ông là một trong hàng ngàn tu sĩ vô danh đã
được tu học tại một trong những tu viện lớn nhất (Garden) gần
Lhasa. Mặc dù đạt được học vị Gésché (tiến sĩ khoa học nhân văn)
nhưng ông nhận thức rằng, muốn thực hiện những gì đã học, mình
cần phải sống trong sự cô tịch và độc cư trong thiên nhiên - xa rời
mọi tiếng ồn ào của chợ búa cũng như đời sống thường nhật của
một tu sĩ trong các tu viện lớn hay trong không khí trí thức của các
đại học tôn giáo.
Thế gian đã quên ông cũng như ông đã quên thế gian - không phải
ông thờ ơ với thế gian mà ngược lại, ông đã không còn thấy giữa
mình và thế giới có cái gì khác biệt. Điều mà ông thức sự quên
không phải là thế gian mà là chính bản thân mình - vì “thế giới”chỉ có
thật trong quan hệ với cái “tôi”.
Dã thú hay đến hang động thăm ông và trở thành bạn với ông. Tâm
ông rộng mở với tất cả mọi sinh vật, với mọi loài biết đau xót trong
sự thông hiểu sâu xa. Vì lý do đó mà ông không hề cảm thấy bị quên
lãng trong cuộc sống độc cư và hưởng sự an lạc trong niềm vui tự
tại, sự an lạc xuất phát từ tri kiến cao quí do thiền định mang lại.
Ngày nọ có một người chăn cừu, khi đi tìm thảo nguyên mới cho
đàn cừu của mình, đã lạc trên núi cao, nghe tiếng chuông damaru
đánh nhịp nhàng, đó là tiếng chuông mà các vị lạt ma và du sĩ khổ
hạnh thường đánh lên trong lúc tụng niệm, lẫn với tiếng khánh bạc.
Lúc đầu ông tưởng minh nghe lầm vì ông cho rằng không người nào
có thể sống trong cảnh cô quạnh thế này được. Đến khi nge rõ tiếng
chuông, ông bắt đầu thấy sợ; vì nếu chuông không phải do người
đánh lên thì chắc hẳn do một sức mạnh huyền bí.
Bị cuốn hút giữa sợ hãi và tò mò, cuối cùng ông đi theo tiếng
chuông, như có một lực nam châm nào không thể cưỡng lại kéo
mình đi và không bao lâu sau ông thấy hình dáng của một vị độc cư
ngồi thiền định sâu lắng trước hang động. Thân người đó gầy nhưng
không khô héo, khuôn mặt hầu như chứa đầy sự bình an tươi sáng,
sáng rực một thứ lửa của sự toàn tâm nội tại. Người chăn cừu liền
hết sợ hãi và sau khi vị độc cư chấm dứt thiền quán, ông đến gần,
đầy lòng kính trọng và xin ban phước.
Khi vị độc cư rờ tay trên đầu thì ông thấy thân mình dường như có
một luồng khí lực chạy qua và một niềm an lạc không thể tả được
đến nỗi ông quên hết những gì mình muốn hỏi và vội vã chạy về
bình nguyên để loan truyền cho mọi người biết sự khám phá quí báu
của mình.
Lúc đầu mọi người không ai tin chuyện này, nhưng khi ông đưa họ
lên động của vị độc cư thì tất cả đều ngạc nhiên tột độ. Làm sao con
người có thể sống trong cảnh hoang dã này được? Ông lấy thực
phẩm ở đâu, không ai biết đến ông? Làm sao ông qua nổi giá lạnh
của mùa đông, khi núi rừng đầy ngập băng tuyết, dù cho có chút
chất đốt ít ỏi như rễ cây cũng không đủ, chứ đừng nói đến có thức
ăn hay không. Điều chắc chắn là chỉ một tu sĩ khổ hạnh với năng lực
siêu nhân mới có thể sống trong môi trường này được.
Mọi người quỳ xuống chân ông và khi ông ban phước, họ thấy mình
như được chuyển hóa - như thấy chính bản thân mình là bình chứa
cho một niềm an lạc siêu thế và một hạnh phúc chưa từng có. Ông
đã cho họ nếm vị của cái mà mỗi người đều có thể đạt đến, khi mà
ta ý thức được năng lực tiềm tàng trong ánh sáng, như năng lực của
hạt giống nằm sâu trong tự thân. Với phước lành, vị lạt ma độc cư
chia sẻ cho mọi người sự chứng thực của chính mình, để khuyến
khích họ đồng hành với mình.
Tin tức về vị độc cư kỳ diệu đó loan truyền dưới lũng như một mồi
lửa. Thế nhưng chỉ thanh niên khỏe mạnh mới dám xông pha leo lên
hang động xa xôi đó; còn những người khác vì già yếu không thể đi
được, nhưng cũng cần đến khai thị tâm linh, họ cầu khẩn xin vị độc
cư hãy xuống bình nguyên để ban phước cho những ai cần đến.
Dười bình nguyên chỉ có một ngôi đền nhỏ, xơ xác với vài tu sĩ, có
tên là “Đền sò trắng” (Dungkar Gompa). Nó nằm trên một đỉnh đồi
đá, giữa một vùng bình nguyên mầu mỡ lúa mì (vì thế có tên là
Tomo, có nghĩa là “đồng lúa mì”). Ngôi đền này bây giờ được trao
cho vị lạt ma độc cư, vị này từ nay mang tên là Tomo Géshé
Rimposché, có nghĩa là “Bảo ngọc của tri kiến tại đồng lúa mì”.
Không bao lâu sau nhiều tu sĩ và cư sĩ xa gần đèu kéo đến Dunkar,
để học hỏi dưới chân Tomo Géshé và chỉ sau một thời gian ngắn thì
đền Sò trắng trở thành một nơi tu học tâm linh và là trung tâm tôn
giáo quan trọng, với đền đài xinh đẹp và phòng ốc rộng rãi. Trong
phòng lớn của chính điện Tomo Géshé cho dựng một bức tượng
vàng Di Lặc rất lớn, vị Phật tương lai, vị Từ thị, là biểu tượng của
tâm linh tương lai và của sự tái sinh chính pháp bất diệt, chính pháp
đó thể hiện trong mọi kẻ giác ngộ và phải được tìm thấy lại trong trái
tim của mỗi con người.
Tuy thế Tomo Géshé chưa hài lòng với thành quả của mình tại
Dungkar. Ông cho dựng tượng Di Lặc ở nhiều nơi khác, để nhắc
nhở người theo Phật rằng không nên yên nghỉ trong sự huy hoàng
của quá khứ mà còn phải chủ động tham gia xây dựng tương lai,
trong tinh thần đạt tới sự thành tựu cuối cùng mà ai cũng có, là
chuẩn bị cho sự xuất hiện của vị Phật sắp đến.
Thế nhưng một biến cố xảy ra, nó cũng bất ngờ và kỳ lạ như việc
khám phá và trở lại thế gian của vị lạt ma độc cư, biến cố này đã
gián đoạn công trình đang được thực hiện của ông. Nguyên do của
biến cố này là một lời tiên tri cao cấp tại Lhasa, đòi Tomo Géshé
phải đi hành hương tại Tschorten Nyima, một nơi chốn trở nên
thiêng liêng nhờ Liên Hoa Sinh[1]. Liên Hoa Sinh là người đầu tiên
đem đạo Phật đén Tây Tạng, cho đạo Phật một nền tảng vững chắc
hằng cách thiết lập tu viện đầu tiên (Samyé) và đưa kinh sách Phật
giáo vào ngôn từ Tây Tạng. Công trình này được tiếp tục bởi nhà
phiên dịch Rintschen Sangpo, vị này sẽ được nhắc đến về sau.
Những điều này đặc biệt quan trọng đối với chúng ta vì chúng nêu rõ
rằng, một trong những biến cố quan trọng trong đời của Tomo
Géshé là liên hệ với thời kỳ thành lập của Phật giáo Tây Tạng, và tại
miền tây Tây Tạng, nhất là tại Tsaparang, nó đóng một vai trò quan
trọng
***
Tschorten Nyima nằm ở một trong những vùng cao nhất của cao
nguyên Tây Tạng, gần biên giới Bắc Sikkim, trên một vùng cao
nguyên khoáng đãng, uốn lượn nhẹ nhàng, tiếp cận với phía Nam
của những đỉnh tuyết Hymalaya, những đỉnh này hầu như xuyên
thủng bầu trời xanh đậm tiêu biểu ở đây. Đây là nơi mà Trời và Đất
gặp nhau trong một mức độ vĩ đại và đáng kính sợ như nhau: nơi
mà cảnh vật của Đất có cái vô tận và nhịp điệu của đại dương và
Trời có chiều sâu của không gian. Đó là nơi mà con người thấy mình
gần hơn với các thiên thể, nơi mà mặt trời mặt trăng là láng giềng và
ngàn sao là bạn.
Và cũng nơi đây đã xảy ra điều đó, cá vị Phật và Bồ-tát quả nhiên đã
gây cảm hứng cho cá nghệ nhân Tsaparang, để dưới tay họ xuất
hiện những dạng hình thấy được, báo thân các vị đó đã xuất hiện ra
trước mắt của Tomo Géshé. Trong màu xanh đậm của bầu trời, các
vị đã xuất hiện ở dạng như kết nên bằng ánh sáng, rực rỡ trong mọi
sắc của cầu vồng, di chuyển chầm chậm trong bầu trời, từ chân trời
phía đông qua phía tây.
Sự xuất hiện này lúc đầu chỉ thấy được với Tomo Géshé. Nhưng,
như một nghệ sĩ lớn biết làm cho người khác thấy được linh ảnh của
mình bằng cách vẽ lại những hình ảnh xuất hiện trong nội tâm trên
giấy mực, thì cũng thế mà vị đạo sư nhờ sự sáng tạo của tâm mình
mà làm cho linh ảnh này trở nên thấy được với mọi người hiện diện.
Không phải tất cả ai cũng cảm nhận linh ảnh được như nhau trong
các chi tiết, vì mực độ cảm thọ mỗi người một khác.
Đối với ai không chứng được điều này - thậm chí cả với người đã tự
mình chứng thực - thật không thể mô tả vẻ đệp của linh ản này bằng
lời hay nói lên được ấn tượng sâu sắc còn lại trong tâm người thấy.
Trong kinh Lăng Nghiêm [2] có đoạn mô tả một biến cố tương tự,
nơi đây được ghi lại để độc giả có thể hình dung về những gì mà
Tomo Géshé và các người đi cùng đã thấy.
“Phật Thích-Ca Mâu-Ni ngự giữa chư Phật và Bồ-tát của mười
phương thế giới và chiếu tỏa hào quang siêu thế của Ngài trên toàn
thể chư vị. Từ tứ chí cũng như báo thân Ngài toát ra ánh sáng mầu
nhiệm, đọng lại trên đỉnh đầu của chư vị Phật và Bồ-tát.
Và cũng thế, hào quang phát ra từ tứ chí và báo thân của chư Phật
và Bồ-tát của mười phương thế giới đọng lại trên đỉnh đầu của Phật
Thích-Ca Mâu-Ni, cũng như trên đỉnh đầu của mọi vị Phật, Bồ-tát và
thánh nhân khác đang hiện diện.
Đồng thời sóng nước của muôn vàn nguồn suối vang lên bài ca
chính pháp và vô số những ánh hào quang siêu thế đó diệt nên một
tấm lưới ngọc, trùm khắp thế gian.
Con mắt trần thế chưa ai được nhìn thấy một cảnh quan tuyệt diệu
như thế, cảnh quan giữ mọi người hiện diện trong sự im lặng kính
sợ. Và trước khi mọi người hiểu ngộ điều gì đang xảy ra thì họ đã
được đưa vào trạng thái an lạc của đại định. một cảm giác hỉ lạc của
sự giải thoát và an bình thấm nhuần tất cả mọi người như một cơn
mưa hoa ngũ sắc, hầu như chúng phản ánh sắc màu óng ánh của
không gian rộng mở trong thân mình.
Tất cả các dạng hình khác biệt của núi sông, của hoa của đá, cẻ vạn
sự tan chảy hòa chung làm một và biến mất, để chỉ còn một sự
chứng thực cái nhất thể uyên nguyên; nó không phải là sự cứng
nhắc đơn điệu mà chứa đầy sự rung động của sức sống và ánh
sáng, đầy tiết điệu hoàn hảo, đầy âm thanh của thành hoại, chứa
dựng lẫn nhau, dung thông cho nhau và cuối cùng tan hòa trong thể
tịch tịnh vĩ đại”.
Dòng tâm thức an tịnh,
tràn ngập niềm an lạc.
Rỗng rang và trong suốt,
xuyên suốt cả không gian.
Đợt sóng vòng tròn nọ,
không còn nhấp nhô nữa.
Như tiết điệu cuối cùng,
buổi hòa âm thiên nhạc.
Âm thanh đã ngưng bặt,
tĩnh lặng thành âm nhạc.
Ánh sáng chiếu rực rỡ,
bóng tối đã biến mất [3]
Những biến cố này tuy hiếm có nhưng không phải duy nhất và có lẽ
tuân theo một qui luật nội tại nào đó, dường như chứa đựng yếu tố
giống nhau. Thế nhưng linh ảnh tại Tschorten Nyima là một trường
hợp lạ lùng trong lịch sử các biến cố tâm lý, trong đó linh ảnh này
không phải chỉ là một sự chứng thực chủ quan của một cá nhân - và
vì thế không kiểm chứng được - mà được một số lớn nhân chứng
xác nhận và ghi vào sách vở [4]
Điều này đã xảy ra sau khi những người hành hương Tschorten
Nying về lại, trong đó mỗi người kể lại những gì mình nghe thấy,
theo mô tả của nhân chứng và được sự chấp nhận của vị đạo sư
(sau khi học trò yêu cầu đã đồng ý) thì những cảnh tượng này đã
được một nghệ nhân có tài tại Tschorten Nyima vẽ lại trong một bích
họa lớn tại tu viện ở Dungkar.
Một trong những nhân chứng của biến cố đáng ghi nhớ này là vị sư
trưởng cuối cùng của Dungkar Gompa, ông là người lãnh đạo tu
viện này cho tới khi Tomo Géshé Rimpotsché tái sinh. Không những
cho chụp hình bức họa quí báu này, ông giải thích mọi chi tiết của
bức tranh, cũng như kể lại mọi biến cố trong lần đi hành hương đó.
Ông mô tả mình dã tận mắt thấy như thế nào cũng như kể những
điều mà ông không đủ sức thấy được, chỉ nghe người khác kể lại.
Ông nhắc lại sự thực hiếm có là một linh ảnh mà thấy được nhiều
giờ để cho ai đã thấy đều ghi nhớ sâu xa được, và để cho mọi người
trao đổi và chỉ dẫn cho nhau.
Tôi xin nhắc thêm là người Tây Tạng không xem linh ảnh là sự bày
tỏ thiêng liêng của thực tại cuối cùng mà biết đến tính tương đối và
nguồn gốc tâm lý của những linh ảnh đó. Trong Đại Thừa Khởi tín
luận, ta thấy: “Khi người học đạo thấy linh ảnh của thiên thần, Bồ-tát
và Như Lai, xung quanh là ánh sáng rực rỡ thì họ nên nghĩ rằng, đó
cũng là do tâm tạo và không có thực tính”.
Nhưng bao lâu nó còn là sự thực tương đối do tâm tạo tác thì bấy
lâu sự sáng tạo đó là “thực”, tức là có một năng lực thực. Chúng
sinh thành và hoại diệt như mỗi một tác phẩm nghệ thuật, chúng
được sinh ra từ chứng thực cao nhất của tâm và dù chúng không có
thực tính, không chứa thực tại tự thân thì chúng vẫn chứa những
biểu tượng, mà dạng của những biểu tượng đó cứ luôn trở lại để chỉ
đường, để nhắc nhở ta đến cái thành tựu cao tột, đến sự giác ngộ.
Vì thế trong các kinh sách (nhất là kinh sách Mật tông Tantra) luôn
luôn ta được nhắc nhở phải tránh hai cực đoan, một bên cho linh
ảnh của những tầng lớp ý thức cao là thực tại cuối cùng - nếu bị như
thế ta sẽ vướng nơi chúng và kẹt giữa đường, - còn bên kia phủ
nhận mọi tính cách có thực của chúng, cho chúng chỉ hoàn toàn do
tâm tạo. Nếu thế chúng ta sẽ nhận thức sai về vai trò quyết định của
tâm thức cũng như khả năng tiềm tàng cẻ nó và đánh mất một
phương tiện quí báu của sự tiến bộ.
Tomo Géshé rất ý thức về hai cực đoan này của tư tưởng con người
cho nên khi học trò xin vẽ lại những linh ảnh tại Tschorten Nyima để
truyền lại cho đời sau thì ông đồng ý nhưng không quên nhắc đến
sai lầm khả dĩ là, tưởng một dạng xuất hiện nào đó là thực thể cuối
cùng. Những linh ảnh này đã có ảnh hưởng lớn lao đến Tomo
Géshé và học trò của ông. Những linh ảnh đó cho ông một thẩm
quyền mà tại Tây Tạng, các vị tái sinh (Tulku) mới có, đó là những vị
chứa tâm Bồ-tát, có thệ nguyện kiên định là lấy hiện thân làm sinh
vật, các vị đó có quyền năng chủ động tái sinh trong tương lại, có
đầy đủ điều kiện cần thiết, để mang lại lợi ích cho con người.
Kết quả trực tiếp của linh ảnh tại Tschorten Nyima là Tomo Géshé
cảm thấy mình không chỉ có trách nhiệm với dân tộc và đất nước
mình trong việc trao truyền pháp giác ngộ, mà cả thế giới bên ngoài,
không phân biệt chủng tộc, giai cấp hay tôn giáo. Vì thế mà ông bỏ
bình nguyên yên tĩnh của mình để đi đến các nước quanh vùng
Himalaya. Và bất cứ nơi đâu đặt chân đến, ông gieo trồng niềm tin
và hy vọng trong lòng mọi người. Ông cứu giúp kể bệnh tật chỉ băng
cách rờ đến họ và bằng sức mạnh tâm ý mình, ông giảng đạo pháp
thiêng liêng, làm cho họ “vui thích lúc đầu, vui thích lúc giữa, vui
thích lúc cuối”[5]; ông khai thị cho những ai sẵn sàng đón nhận sự
thực của Pháp và có khi phải bỏ lại đồ đệ của mình để lên đường
mang chính pháp đi truyền bá cũng như đã vì thế mà ông đã bỏ
thung lũng hiền hòa của mình ra đi.
TU VIỆN YI-GAH TSCHOLING
Để hiểu ý nghĩa của đời sống chúng ta, để nhận rõ những mối dây
và hình ảnh kỳ lạ đan chằng chịt trong số phận của mình (theo quan
điểm Phật giáo, đó là kết quả của Nghiệp, tất cả tạo tác của ta trong
quá khứ), thỉnh thoảng ta phải nhìn lui để thấy những mối dây của
mạng lưới này, cái mà ta gọi là cuộc đời, xuất phát từ đâu, chạy như
thế nào. Một cái nhìn, vài tiếng nói vô bổ, vài tiết điệu rời rạc vang
lên trong một đêm hè yên lặng; một cuốn sách tình cờ đến tay ta,
một bài thơ, một mùi hương gọi nhớ - tất cả những ấn tượng dường
như tình cờ đó có thể sinh ra năng lực làm thay đổi và quyết định cả
cuộc đời tương lai của ta hay là chìa khóa mở ra cho thấy những bí
ẩn sâu xa nằm trong quá khứ.
Khi viết những dòng này, xung quanh tôi là mùi hương dầu của loại
nhang Tây Tạng và gợi cho tôi nhớ lại nơi chốn mà lần đầu tôi ngửi
đến nó. Tôi thấy mình ngồi trong điện của một tu viện Tây Tạng,
được chiếu sáng bằng đèn dầu, xung quanh mình là một loạt những
hình tượng lạ lùng, một số thì hiền hòa an lạc, số khác thì dữ tợn
phẫn nộ và số khác nữa thì xem ra kỳ dị và bí ẩn. Như xuất phát từ
cõi không gian nào đầy bóng tối, các hình tượng đó chiếm đầy nội
thất của ngôi đền. Nhìn tổng thể, hầu như các tượng đó có một sự
sinh động, một sự hòa điệu giữa màu sắc và tiết điệu, chúng phản
ánh cái đa diện phong phú của một nhất thể bao trùm.
Tôi đã vào trú ẩn tại tu viện này trong một ngày dông bão dữ dội, nó
cắt đứt tất cả mói liên lạc với bên n goài và chôn vùi cảnh vạt mùa
hè dưới băng tuyết. Sự bất ngờ và năgn lực của trận bão đầy tuyết
và mưa đá thật lạ lùng, đến nỗi cả người già cả ở vùng này cũng
chưa hề thấy lần nào tương tự trong đời mình và đối với tôi là kể
vừa đến từ Sri-Lanka, mang y vàng của một tu sĩ Thượng tọa bộ,
choàng chiếc khăn nhẹ, chân mang dép mỏng, thì tất cả hiện ra có
vẻ ma quái hay một cơn mơ kỳ dị.
Còn tu viện - nằm trên cao dãy Darjeeling, xung quanh là thung lũng
- trên chỏm núi chơ vơ, như một trái bóng để các đám mây đang
gàm thét xô đảy, chúng xuất phát từ chiều sâu nào mà mang theo
hàng ngàn tia chớp và sau đó là một loạt mây từ những đỉnh cao
băng tuyết Himalaya đổ xuống, sự hỗ độn đến như thế là cùng.
Tiếng sấm động vang lên không ngừng, tiếng đổ như trống dọi của
mưa đá trên nóc điện và tiếng gầm rú của dông bão tộn lẫn nhau
như bản hòa tấu của địa ngục.
***
Vì sẽ nhiều ngày nên tôi không rời tu viện được, vị sư trưởng vui vẻ
mời tôi ở cùng phòng với ông. Ông mang cho tôi chăn ấm và cố hết
sức để tôi được thoải mái. Căn phòng nhỏ vì thế mà quá nóng và
đầy khói nhang cũng như mùi củi khô mà thỉnh thoảng vị sư trưởng
ném vào lò sưởi lúc tụng niệm làm tôi hầu như ngạt thở và không
ngủ được. May thay ngày hôm sau, ông cho tôi về ở góc của tu viện
lớn này, mà nơi đó có thể băng qua sân tu viện, nó cách ly ngôi đền
và tòa nhà chính của điện.
Tại sao tôi lại rời bỏ cuộc sống yên lành tại Sri-Lanka, một thiên
đường ấm áp để đi vào một vùng ma quái đầy dông bão của
Himalaya và không khí kỳ lạ của một tu viện Tây Tạng? Chưa bao
giờ Tây Tạng đóng vài trò gì trong kế hoạch của tôi và có sức thu
hút tôi. Đối với tôi, Sri-Lanka đã thỏa mãn tất cả sự mơ ước và vì tôi
đã nghĩ rằng mình sẽ sống tại đó đến cuối đời nên đã xây dựng
ngay giữa đảo một cái cốc - nằn giữa đường từ Kandy và Nuwara
Eliya - trong một vùng sơn cước yên lành với mùa xuân trường cửu,
không bị ánh nắng màu hè và sức lạnh mùa đong xâm phạm, cây
cối đâm chồi nở lộc quanh năm. Thế nhưng một ngày nọ tôi nhận
được thư mời tham dự một hội nghị quốc tế về Phật giáo tại
Darjeeling với tính cách là đại biểu của Sri-Lanka và làm chủ tọa
điều khiển tiểu ban kinh sách của hội nghị. Mới đầu chần chừ, cuối
cùng tôi nhận lời tham gia. Tôi được động viên bởi ý nghĩ, đây chính
là dịp để trình bày giáo pháp thuần túy của Phật đã được Sri-Lanka
gìn giữ, tại một nơi mà ngôn từ của Phật đã bị một hệ thóng thờ quỉ
thần và niềm tin sai lạc bóp méo.
Và bây giờ tôi ở đây, trong xứ sở kỳ dị của Lạt ma giáo, không nói
được thứ tiếng của họ, không có chút hiểu biết nào về ý nghĩa của
vô số hình ảnh và biểu tượng, chúng nằm đầy trên các bích họa
cũng như tượng hình quanh tôi. Chỉ các tượng Phật và Bồ-tát là tôi
quen. Nhưng khi ngay đó đến, ngày mà bầu tời xanh lại và người ta
có thể liên lạc với bên ngoài, và không có gì ngăn cản tôi rời
Darjeeling trở về với Sri-Lanka thoải mái thì tôi không còn muố...
 






Các ý kiến mới nhất