Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Lương Hùng)
  • (Trương Hoàng Anh)

Điều tra ý kiến

Các bạn thầy trang web của chúng tôi thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Toan8tap1kntthinh_anh1.jpg GTS_thang_2_Kien_quyet_kien_tri_dau_tranh_phong_chong_tham_nhung_tieu_cuc_gop_phan_xay_dung_Dang_va_Nha_nuoc_ta_ngay_cang_trong_sach_vung_manh.flv GTS_Son_La_voi_chien_dich_Tay_Bac_1952.flv Gts_Dao_hieu_trong_doi_song_xa_hoi_Viet_Nam_hien_nay.flv Me_rat_tu_hao_ve_con_day_An_Nhung_dieu_con_hoc_hom_nay_la_nhung_bau_vat_quy_gia_ma_chung_ta_can_giu_gin_va_truyen_lai_cho_the_he_sau.flv

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Sơn La.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Con đường Mây trắng

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đào Thị Trà
    Ngày gửi: 10h:23' 22-08-2025
    Dung lượng: 1.5 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Con Đường Mây Trắng
    Anagarika Govinda

    Mục lục
    LỜI NGƯỜI DỊCH
    Tác giả Lama Anagarika Govinda
    PHẦN THỨ NHẤT
    PHẦN THỨ HAI
    PHẦN THỨ BA
    PHẦN THỨ TƯ
    PHẦN THỨ NĂM
    LỜI CUỐI CỦA NGƯỜI DỊCH

    Anagarika Govinda
    Con Đường Mây Trắng
    Dịch giả : Nguyễn Tường Bách
    LỜI NGƯỜI DỊCH
    Nguyên tác : Der Weg Der Weissen Wolken
    Trong thế kỷ XX, phương Tây có hai người tìm hiểu đất nước Tây
    Tạng rất sâu sắc, đó là bà Alexandra David Néel và ông Anagarika
    Govinda. Cả hai vị này đã từng sống nhiều năm tại Tây Tạng, từng
    tu tập thiền định và đi khắp nơi trong xứ sở huyền bí này hơn bất cứ
    người nước ngoài nào khác. Có thể nói họ hiểu Tây Tạng với tất cả
    những khía cạnh tâm linh, tâm lý, địa lý nhiều hơn cả phần đông
    người Tây Tạng.
    Hai vị này đều đã qua đời nhưng họ đã để lại cho thế giới vô số
    sách vở về kinh nghiệm suy niệm của họ tại Tây Tạng ngày nay vẫn
    còn được đánh giá cao nhất và hậu thế có lẽ cũng sẽ khó có ai vượt
    qua được tầm nhìn và kinh nghiệm nội tâm của họ. Điều này thật ra
    không phải đáng ngạc nhiên, nếu ta biết rằng hai vị này không phải
    là khách hành hương bình thường, mà họ đã thực sự độc cư tu tập
    trên các vùng núi non hẻo lánh của Himalaya. Vì lẽ đó mà những gì
    họ viết ra không phải chỉ là những nhận xét bằng con mắt thường
    tình của một lữ khách, mà là những khám phá và sáng tạo tâm linh
    ở xứ sở gió tuyết này.
    Trong khoảng hơn mười cuốn sách của họ thì cuốn Der weg der
    weissen wolken (Con đường mây trắng) của Govinda là nổi tiếng
    hơn cả. Nó là cuốn sách được nhắc nhở, được tham cứu, được tìm

    đọc nhiều nhất khi nói về Tây Tạng dưới ngòi bút của một người
    phương Tây.
    Govinda người Bolivia gốc Đức, nhưng sách ông viết thường bằng
    Anh ngữ. Đặc biệt cuốn sách này được ông viết thành hai bản Anh
    ngữ và Đức ngữ. Bản Đức ngữ là bản cuối cùng, được sửa chữa và
    vì thế qui mô, đầy đủ và chính xác hơn bản Anh ngữ. Ai đã từng đọc
    Govinda đều biết văn của ông hùng biện súc tích, nhiều hình ảnh,
    nhiều tầng lớp và vì thế người dịch thường gặp nhiều khó khăn để
    hiểu hết ý ông
    Là một người phương Tây với tính sắc sảo của óc lý luận phân tích
    sẵn có, pha lẫn sự huyền bí của một quá trình chứng thực tâm linh
    bằng trực giác, Govinda là một con người kỳ lạ và điều đó phản ánh
    rõ nét trong cuốn sách này. Vì những lẽ đó, đọc cuốn sách này, phần
    nào ta cảm nhận được sự tổng hợp giữa hai cực lý luận và trực giác
    trong tâm thức con người phương Đông.
    Mặc dù người dịch đã cố gắng hết sức trong khả năng của mình,
    nhưng chắc chắn bản dịch này không thể tránh khỏi thiếu sót. Người
    dịch mong nhận được sự góp ý chỉ dẫn của tất cả mọi người đọc để
    bản dịch được hoàn chỉnh hơn.
    Nguyễn Tường Bách.
     

    Anagarika Govinda
    Con Đường Mây Trắng
    Dịch giả : Nguyễn Tường Bách
    Tác giả Lama Anagarika Govinda
    Nguyên tác : Der Weg Der Weissen Wolken
    Lama Anagarika Govinda là tu sĩ Phật giáo, học giả, giáo sư Phật
    học, và họa sĩ người Đức. Thế danh của ông là Ernst Hoffman. Ông
    sinh năm 1898 ở Waldheim (Đức) và mất 1985 ở California (Mỹ).
    Ông tu theo đạo Phật lúc 18 tuổi. Năm 30 tuổi ông sang Tích Lan và
    Miến Điện học đạo rồi sau đó thực hành Mật giáo Tây tạng.
    Ông sống ở Darjeeling, dưới chân dãy núi Hy Mã Lạp Sơn trong
    nhiều năm, dạy ở Đại học Patna và Shantiniketan, vùng Tây Bengal,
    Ấn Độ (Đại học do văn hào Ấn Độ Rabindranath Tagore thành lập),
    dạy Phật học tại nhiều đại học ở châu Âu, Á, Phi, và Mỹ, và thành
    lập đạo tràng Arya Maitreya Mandala tại Ấn Độ, Đức và Mỹ. Ông
    sang Mỹ hành đạo từ năm 1967. Ông được xem như một trong
    những người có công lớn đưa Phật giáo vào phương Tây và là nhịp
    cầu hiện đại nối liền văn hóa Đông Tây.
    Ông để lại nhiều tác phẩm Phật học có giá trị và đựơc dịch ra nhiều
    thứ tiếng. Tác phẩm chính của ông là Nền tảng Mật giáo Tây Tạng
    (Foundations of Tibetan Mysticism, NXB Samuel Weiser, Mỹ, 1969),
    Thái độ tâm lý trong triết học Phật giáo nguyên thủy  (The
    Psychological Attitude of Early Buddhist Pholosophy, NXB Rider,
    Anh, 1969), Con đường mây trắng (The Way of the White Clouds,
    NXB Shambala, Mỹ, 1988, được Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách dịch

    từ tiếng Đức sang tiếng Việt, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1999), Cấu
    trúc nội tại của Kinh Dịch (The Inner Structure of The I Ching, NXB
    Weatherhill, Mỹ, 1981), Biểu tượng tâm lý và vũ trụ của các bảo tháp
    Phật giáo (Psycho-cosmic Symbolism of the Buddhist Stupa, NXB
    Dharma, Mỹ, 1976), Thiền định sáng tạo và tâm thức đa diện
    (Creative Meditation and Multi-Dimensional Consciousness, NXB
    Quest, Mỹ, 1979), Suy tưởng Phật giáo (Buddhist Reflections, NXB
    Samuel Weiser, Mỹ, 1991), Đạo Phật đi vào cuộc sống phương Tây
    (Living Buddhism for the West, NXB Shambala, Mỹ, 1990).
     


    Anagarika Govinda
    Con Đường Mây Trắng
    Dịch giả : Nguyễn Tường Bách
    PHẦN THỨ NHẤT
    NHỮNG LINH ẢNH
    LINH ẢNH TẠI ĐỀN TSAPARANG
    Mặc chiếc áo hữu hiện

    Chân Như bị hạn chế.

    Lấy dạng hình thi ca,

    Vận động nhẹ như bông
    .



    (Rabindranath Tagore)



    Đó là một đêm đầy giông bão trên cổ điện hoang tàn tại Tsaparang,
    ngày xưa là thủ phủ của một vương quốc hùng hậu của miền tây
    Tây Tạng. Mây kéo nhau qua dầy đặc trên bầu trời, làm vầng trăng
    tròn khi chiếu rọi khi biến mất, để cho ánh trăng, như phát ra từ một
    chiếc đèn ma quái, nhảy múa trên một sân khấu khổng lồ, diễn lại
    lịch sử của một bi kịch bất tử. Tôi nói “bất tử” vì đó là bi kịch miên
    viễn của sự hoại diệt, của sự phục hưng trong trò chơi kỳ diệu của
    sức mạnh và thiện mỹ, của vẻ rực rỡ thế gian và của thành tựu tâm
    linh.



    Sức mạnh đã suy tàn nhưng vẻ đẹp vẫn còn vương trên cung điện
    hoang phế, còn nằm yên trong những tác phẩm nghệ thuật, chúng

    đã được tạo thành bằng sự kiên trì và nhẫn nhục, trong bóng tối của
    một thời thịnh trị. Cái rực rỡ và hùng mạnh đã trở thành cát bụi, cái
    thần của văn hóa và niềm xác tín tôn giáo đã rút lui trong sự độc cư
    xa lánh cuộc đời, chúng còn hiện diện trong ngôn ngữ từ hay tác
    phẩm của thánh nhân, thi sĩ hay đạo sư và qua đó mà khẳng định lại
    lời của Lão Tử, rằng cái mềm yếu mới sống còn, cái cứng mạnh chỉ
    thuộc về cõi chết.



    Số phận của Tsaparang đã an bài. Công trình của con người và tạo
    tác của thiên nhiên hầu như không còn phân biệt được nữa. Cổ điện
    đã biến thành cát đá và cát đá vươn lên như cung điện uy nghi.
    Toàn bộ ngọn núi hùng vĩ hiện ra như một tảng đá cẩm thạch vĩ đại,
    trong đó khắc họa một thành quách hoang đường: với lâu đài và
    cung điện, với tháp với vách, cao như muốn đụng đến mây, dựng
    đứng trên vách đá thẳng cheo leo, như một tổ ong với hàng trăm
    hàng ngàn ngăn hộc.



    Ánh trăng mờ tỏ chiếu rọi làm cảnh vật hầu như vô thực và thêm
    đáng sợ, trong đó mọi sự đột nhiên biến mất, nhanh như chúng đã
    xuất hiện.



    Ngôi đền màu đỏ thờ Phật Thích-Ca Mâu-Ni chìm trong bóng tối tĩnh
    lặng. Chỉ riêng khuôn mặt bức tượng vàng to lớn Thích-Ca Mâu-Ni
    hầu như tỏa ra một thứ ánh sáng êm dịu, ánh sáng này được tiếp
    nhận và phản chiếu bởi tượng của các vị Thiền Phật ở bên cạnh tả
    hữu của Ngài.



    Bỗng nhiên tường vách của ngôi đền bắt đầu rung động và tiếng ầm

    ầm đáng sợ của đá đổ vang lên. Hộp gỗ đựng đèn thờ Phật ThíchCa bỗng vỡ tung và khuôn mặt tượng Phật rực sáng ánh trăng, cả
    ngôi đền được chiếu sáng rực.



    Cả không gian bỗng đầy tiếng than thở, hầu như cả ngôi đền rên rĩ
    dưới sức nặng của bao thế kỷ.



    Một kẽ nứt to lớn hiện ra trên bức tượng bên cạnh bức họa nữ thần
    sắc trắng Tara và gần đụng một cánh hoa nằm cạnh tòa sen của
    thần.



    Thần thức sống trong cánh hoa hoảng sợ nhảy ra khỏi trú xứ của
    mình, hai tay chắp lại hướng về thần Tara:

    “Hỡi thần, kẻ cứu độ mọi loài sinh linh, hãy cứu chúng con và ngôi
    đền thiêng liêng này, đừng để bị hoại diệt!”

    Với cặp mắt từ bi, Tara nhìn chỗ phát tiếng nói và hỏi: “Ngươi là ai,
    thần thức nhỏ bé kia?”

    “Con là thần thức của cái đẹp, trú trong cánh hoa bên cạnh Ngài”.

    Tara nở một nụ cười đẹp như người mẹ và chỉ vào một góc khác
    của ngôi đền: “Trong các lời giáo hóa quí báu hiện được cất chứa
    trong các bộ kinh có một kinh mang tên Bát-Nhã Ba-la-mật. Trong đó
    có lời dạy sau đây của Đức Thế Tôn.



    Cần phải quán như sau:



    "như đám mây trôi nổi,

    như sao sớm bầu trời,

    như ánh lửa vô thường,


    như sóng nước suy tàn,

    như bóng ma, ảo ảnh,

    như giấc mộng chóng tan."



    Thần thức cánh hoa nước mắt đầy tròng: “Ôi, những lời này chân
    thực biết bao, hết sức chân thực, hết sức thiện mỹ! Và nơi đâu có vẻ
    đẹp, dù cho chỉ một lần để ánh mắt ngời sáng, là ở đó có một dây
    đàn bất tử dã rung lên trong ta. Vâng, chúng ta đều ở trong cơn đại
    mộng, và ta hy vọng cuối cùng sẽ thức tỉnh, như Như Lai, Đức Thế
    Tôn, vì lòng từ bi đã xuất hiện trong “dạng mộng” của Ngài để đưa
    chúng ta đến giác ngộ”.



    Khi nói như thế, thần thức của cái đẹp nghiêng mình hướng về
    Thích-Ca Mâu-Ni, mà tượng Ngài cũng như tất cả mọi hình tượng
    khác của ngôi đền, trong phút giây kỳ diệu này đã trở thành sống
    động.



    “Không phải vì con thôi”, thần thức nói tiếp, “mà con xin Ngài cứu
    độ. Con biết tất cả mọi sắc thể đáng sống nơi đây sẽ hoại diệt - cũng
    như những lời dạy của Đức Như Lai chứa trong các kinh bản bám
    bụi đã nói. Điều con mong cầu là: đừng để cho các kinh điển đó mất
    đi trước khi chúng ta truyền được thông điệp vĩ đại đã ghi trong đó.



    Con lạy Ngài, hỡi mẹ của tất cả sinh linh, của tất cả các vị Phật, hãy
    có lòng từ bi với tất cả mọi người chỉ vướng ít bụi trong mắt, những
    người có thể thấy và hiểu được, chỉ cần chúng ta ở lâu thêm một
    chút trong dạng đại mộng của mình, để cho thông điệp của chúng ta
    đến được với họ, hay trao được cho những người có thể phổ biến

    thêm ra, vì ích lợi của mọi loài hữu tình.



    Đạo sư của chúng ta là Thích-Ca Mâu-Ni ngày xưa cũng được các
    thiên nhân khẩn cầu, khoan hãy nhập Đại Niết bàn khi Ngài đạt giác
    ngộ vô thượng. Hãy cho con được cầu khẩn Ngài với lý do như thế,
    xin được quy y với Ngài và với vô số dạng hình của Ngài”.



    Thần thức lại cúi mình, hai tay chắp trước trán, trước hình tượng uy
    nghi sáng rực của Phật Thích-Ca Mâu-Ni và tất cả chư Phật và Bồtát tề tựu xung quanh.



    Thần Tara nhắc tay bắt ấn cứu độ và khuôn mặt sáng rực của ThíchCa Mâu-Ni mỉm cười đồng ý. “Thần thức của cái đẹp đã nói lên sự
    thực, tâm của thần thức đày lòng thành khẩn. Vì làm sao khác
    được? Không phải cái đẹp là kẻ chuyên chở và phụng sự cho Chân
    như sao? Cái đẹp là nơi thể hiện của sự hòa điệu mọi dạng hình, dù
    đó là sắc thấy được hay âm nghe được, dù đó là vật chất hay phi
    vật chất. Dù mọi dạng hình là vô thường nhưng sự hòa điệu, điều
    mà các dạng đó trình bày và thể hiện, thuộc về vương quốc bất tử
    của tâm, thuộc về quy luật sâu kín nhất của Chân như mà ta gọi là
    Pháp.



    Nếu ta không diễn đạt Pháp vĩnh cửu đó bằng sự hòa điệu hoàn hảo
    trong ngôn từ và tư tưởng, thì ta cũng đã không thông qua thần thức
    của vẻ đẹp mà kêu gọi loài người, giáo pháp của ta đã không rung
    động tim óc họ, giáo pháp đó đã không sống nổi một thế hệ.



    Ngôi đền này sẽ sụp đổ cũng như các kinh sách nằm trong các góc

    nọ sẽ tàn tạ, đó là những kinh sách mà các đệ tử của ta đã chép lại,
    với sự nghiêm túc và nhiệt thành vô lượng. Nhưng những người
    khác cũng đã chép lại, từng chữ một, cho nên dù các văn bản này
    có thể bị hủy hoại, giáo pháp vẫn tiếp tục được truyền bá. Cũng như
    thế, mong sao các công trình khác của nghệ sĩ hay thánh nhân, các
    vị đã làm nên ngôi đền thiêng liêng này, sẽ được bảo toàn cho
    những thế hệ sau.



    Hỡi thần thức cái đẹp, mong ước của ngươi sẽ được toại nguyện.
    Dạng hình của ngươi cũng như tất cả các dạng hình sống trong đền
    này sẽ không bị hủy hoại, bao lâu thông điệp cả các ngươi chưa đến
    với thế gian, thì bấy lâu mục đích thánh thiện của các ngươi chưa
    được toàn vẹn”.

     

     



    LINH ẢNH CỦA ĐẠO SƯ



    Trên hàng ngàn ngọn núi,

    Nơi đỉnh cao cô quạnh,

    Một mái lều xa vắng,

    Nửa lều, chỗ sư ở,

    Nửa kia dành cho mây.

    Nửa đêm giông bão tới,

    Thổi đám mây đi xa.

    Có bao giờ mây hỏi,

    Mình ở lâu nơi nào?!




    Ryowan

     

     

    Lạt ma Ngawang Kalsang sống độc cư mười hai năm trong hang
    động cheo leo, tu tập thiền định. không ai biết ông là ai, không ai
    nghe nói gì về ông. Ông là một trong hàng ngàn tu sĩ vô danh đã
    được tu học tại một trong những tu viện lớn nhất (Garden) gần
    Lhasa. Mặc dù đạt được học vị Gésché (tiến sĩ khoa học nhân văn)
    nhưng ông nhận thức rằng, muốn thực hiện những gì đã học, mình
    cần phải sống trong sự cô tịch và độc cư trong thiên nhiên - xa rời
    mọi tiếng ồn ào của chợ búa cũng như đời sống thường nhật của
    một tu sĩ trong các tu viện lớn hay trong không khí trí thức của các
    đại học tôn giáo.



    Thế gian đã quên ông cũng như ông đã quên thế gian - không phải
    ông thờ ơ với thế gian mà ngược lại, ông đã không còn thấy giữa
    mình và thế giới có cái gì khác biệt. Điều mà ông thức sự quên
    không phải là thế gian mà là chính bản thân mình - vì “thế giới”chỉ có
    thật trong quan hệ với cái “tôi”.



    Dã thú hay đến hang động thăm ông và trở thành bạn với ông. Tâm
    ông rộng mở với tất cả mọi sinh vật, với mọi loài biết đau xót trong
    sự thông hiểu sâu xa. Vì lý do đó mà ông không hề cảm thấy bị quên
    lãng trong cuộc sống độc cư và hưởng sự an lạc trong niềm vui tự
    tại, sự an lạc xuất phát từ tri kiến cao quí do thiền định mang lại.



    Ngày nọ có một người chăn cừu, khi đi tìm thảo nguyên mới cho
    đàn cừu của mình, đã lạc trên núi cao, nghe tiếng chuông damaru

    đánh nhịp nhàng, đó là tiếng chuông mà các vị lạt ma và du sĩ khổ
    hạnh thường đánh lên trong lúc tụng niệm, lẫn với tiếng khánh bạc.
    Lúc đầu ông tưởng minh nghe lầm vì ông cho rằng không người nào
    có thể sống trong cảnh cô quạnh thế này được. Đến khi nge rõ tiếng
    chuông, ông bắt đầu thấy sợ; vì nếu chuông không phải do người
    đánh lên thì chắc hẳn do một sức mạnh huyền bí.



    Bị cuốn hút giữa sợ hãi và tò mò, cuối cùng ông đi theo tiếng
    chuông, như có một lực nam châm nào không thể cưỡng lại kéo
    mình đi và không bao lâu sau ông thấy hình dáng của một vị độc cư
    ngồi thiền định sâu lắng trước hang động. Thân người đó gầy nhưng
    không khô héo, khuôn mặt hầu như chứa đầy sự bình an tươi sáng,
    sáng rực một thứ lửa của sự toàn tâm nội tại. Người chăn cừu liền
    hết sợ hãi và sau khi vị độc cư chấm dứt thiền quán, ông đến gần,
    đầy lòng kính trọng và xin ban phước.



    Khi vị độc cư rờ tay trên đầu thì ông thấy thân mình dường như có
    một luồng khí lực chạy qua và một niềm an lạc không thể tả được
    đến nỗi ông quên hết những gì mình muốn hỏi và vội vã chạy về
    bình nguyên để loan truyền cho mọi người biết sự khám phá quí báu
    của mình.



    Lúc đầu mọi người không ai tin chuyện này, nhưng khi ông đưa họ
    lên động của vị độc cư thì tất cả đều ngạc nhiên tột độ. Làm sao con
    người có thể sống trong cảnh hoang dã này được? Ông lấy thực
    phẩm ở đâu, không ai biết đến ông? Làm sao ông qua nổi giá lạnh
    của mùa đông, khi núi rừng đầy ngập băng tuyết, dù cho có chút
    chất đốt ít ỏi như rễ cây cũng không đủ, chứ đừng nói đến có thức

    ăn hay không. Điều chắc chắn là chỉ một tu sĩ khổ hạnh với năng lực
    siêu nhân mới có thể sống trong môi trường này được.



    Mọi người quỳ xuống chân ông và khi ông ban phước, họ thấy mình
    như được chuyển hóa - như thấy chính bản thân mình là bình chứa
    cho một niềm an lạc siêu thế và một hạnh phúc chưa từng có. Ông
    đã cho họ nếm vị của cái mà mỗi người đều có thể đạt đến, khi mà
    ta ý thức được năng lực tiềm tàng trong ánh sáng, như năng lực của
    hạt giống nằm sâu trong tự thân. Với phước lành, vị lạt ma độc cư
    chia sẻ cho mọi người sự chứng thực của chính mình, để khuyến
    khích họ đồng hành với mình.



    Tin tức về vị độc cư kỳ diệu đó loan truyền dưới lũng như một mồi
    lửa. Thế nhưng chỉ thanh niên khỏe mạnh mới dám xông pha leo lên
    hang động xa xôi đó; còn những người khác vì già yếu không thể đi
    được, nhưng cũng cần đến khai thị tâm linh, họ cầu khẩn xin vị độc
    cư hãy xuống bình nguyên để ban phước cho những ai cần đến.



    Dười bình nguyên chỉ có một ngôi đền nhỏ, xơ xác với vài tu sĩ, có
    tên là “Đền sò trắng” (Dungkar Gompa). Nó nằm trên một đỉnh đồi
    đá, giữa một vùng bình nguyên mầu mỡ lúa mì (vì thế có tên là
    Tomo, có nghĩa là “đồng lúa mì”). Ngôi đền này bây giờ được trao
    cho vị lạt ma độc cư, vị này từ nay mang tên là Tomo Géshé
    Rimposché, có nghĩa là “Bảo ngọc của tri kiến tại đồng lúa mì”.



    Không bao lâu sau nhiều tu sĩ và cư sĩ xa gần đèu kéo đến Dunkar,
    để học hỏi dưới chân Tomo Géshé và chỉ sau một thời gian ngắn thì
    đền Sò trắng trở thành một nơi tu học tâm linh và là trung tâm tôn

    giáo quan trọng, với đền đài xinh đẹp và phòng ốc rộng rãi. Trong
    phòng lớn của chính điện Tomo Géshé cho dựng một bức tượng
    vàng Di Lặc rất lớn, vị Phật tương lai, vị Từ thị, là biểu tượng của
    tâm linh tương lai và của sự tái sinh chính pháp bất diệt, chính pháp
    đó thể hiện trong mọi kẻ giác ngộ và phải được tìm thấy lại trong trái
    tim của mỗi con người.



    Tuy thế Tomo Géshé chưa hài lòng với thành quả của mình tại
    Dungkar. Ông cho dựng tượng Di Lặc ở nhiều nơi khác, để nhắc
    nhở người theo Phật rằng không nên yên nghỉ trong sự huy hoàng
    của quá khứ mà còn phải chủ động tham gia xây dựng tương lai,
    trong tinh thần đạt tới sự thành tựu cuối cùng mà ai cũng có, là
    chuẩn bị cho sự xuất hiện của vị Phật sắp đến.



    Thế nhưng một biến cố xảy ra, nó cũng bất ngờ và kỳ lạ như việc
    khám phá và trở lại thế gian của vị lạt ma độc cư, biến cố này đã
    gián đoạn công trình đang được thực hiện của ông. Nguyên do của
    biến cố này là một lời tiên tri cao cấp tại Lhasa, đòi Tomo Géshé
    phải đi hành hương tại Tschorten Nyima, một nơi chốn trở nên
    thiêng liêng nhờ Liên Hoa Sinh[1]. Liên Hoa Sinh là người đầu tiên
    đem đạo Phật đén Tây Tạng, cho đạo Phật một nền tảng vững chắc
    hằng cách thiết lập tu viện đầu tiên (Samyé) và đưa kinh sách Phật
    giáo vào ngôn từ Tây Tạng. Công trình này được tiếp tục bởi nhà
    phiên dịch Rintschen Sangpo, vị này sẽ được nhắc đến về sau.



    Những điều này đặc biệt quan trọng đối với chúng ta vì chúng nêu rõ
    rằng, một trong những biến cố quan trọng trong đời của Tomo
    Géshé là liên hệ với thời kỳ thành lập của Phật giáo Tây Tạng, và tại

    miền tây Tây Tạng, nhất là tại Tsaparang, nó đóng một vai trò quan
    trọng 



    ***



    Tschorten Nyima nằm ở một trong những vùng cao nhất của cao
    nguyên Tây Tạng, gần biên giới Bắc Sikkim, trên một vùng cao
    nguyên khoáng đãng, uốn lượn nhẹ nhàng, tiếp cận với phía Nam
    của những đỉnh tuyết Hymalaya, những đỉnh này hầu như xuyên
    thủng bầu trời xanh đậm tiêu biểu ở đây. Đây là nơi mà Trời và Đất
    gặp nhau trong một mức độ vĩ đại và đáng kính sợ như nhau: nơi
    mà cảnh vật của Đất có cái vô tận và nhịp điệu của đại dương và
    Trời có chiều sâu của không gian. Đó là nơi mà con người thấy mình
    gần hơn với các thiên thể, nơi mà mặt trời mặt trăng là láng giềng và
    ngàn sao là bạn.



    Và cũng nơi đây đã xảy ra điều đó, cá vị Phật và Bồ-tát quả nhiên đã
    gây cảm hứng cho cá nghệ nhân Tsaparang, để dưới tay họ xuất
    hiện những dạng hình thấy được, báo thân các vị đó đã xuất hiện ra
    trước mắt của Tomo Géshé. Trong màu xanh đậm của bầu trời, các
    vị đã xuất hiện ở dạng như kết nên bằng ánh sáng, rực rỡ trong mọi
    sắc của cầu vồng, di chuyển chầm chậm trong bầu trời, từ chân trời
    phía đông qua phía tây.



    Sự xuất hiện này lúc đầu chỉ thấy được với Tomo Géshé. Nhưng,
    như một nghệ sĩ lớn biết làm cho người khác thấy được linh ảnh của
    mình bằng cách vẽ lại những hình ảnh xuất hiện trong nội tâm trên
    giấy mực, thì cũng thế mà vị đạo sư nhờ sự sáng tạo của tâm mình

    mà làm cho linh ảnh này trở nên thấy được với mọi người hiện diện.
    Không phải tất cả ai cũng cảm nhận linh ảnh được như nhau trong
    các chi tiết, vì mực độ cảm thọ mỗi người một khác.



    Đối với ai không chứng được điều này - thậm chí cả với người đã tự
    mình chứng thực - thật không thể mô tả vẻ đệp của linh ản này bằng
    lời hay nói lên được ấn tượng sâu sắc còn lại trong tâm người thấy.



    Trong kinh Lăng Nghiêm [2] có đoạn mô tả một biến cố tương tự,
    nơi đây được ghi lại để độc giả có thể hình dung về những gì mà
    Tomo Géshé và các người đi cùng đã thấy.



    “Phật Thích-Ca Mâu-Ni ngự giữa chư Phật và Bồ-tát của mười
    phương thế giới và chiếu tỏa hào quang siêu thế của Ngài trên toàn
    thể chư vị. Từ tứ chí cũng như báo thân Ngài toát ra ánh sáng mầu
    nhiệm, đọng lại trên đỉnh đầu của chư vị Phật và Bồ-tát.



    Và cũng thế, hào quang phát ra từ tứ chí và báo thân của chư Phật
    và Bồ-tát của mười phương thế giới đọng lại trên đỉnh đầu của Phật
    Thích-Ca Mâu-Ni, cũng như trên đỉnh đầu của mọi vị Phật, Bồ-tát và
    thánh nhân khác đang hiện diện.



    Đồng thời sóng nước của muôn vàn nguồn suối vang lên bài ca
    chính pháp và vô số những ánh hào quang siêu thế đó diệt nên một
    tấm lưới ngọc, trùm khắp thế gian.



    Con mắt trần thế chưa ai được nhìn thấy một cảnh quan tuyệt diệu
    như thế, cảnh quan giữ mọi người hiện diện trong sự im lặng kính

    sợ. Và trước khi mọi người hiểu ngộ điều gì đang xảy ra thì họ đã
    được đưa vào trạng thái an lạc của đại định. một cảm giác hỉ lạc của
    sự giải thoát và an bình thấm nhuần tất cả mọi người như một cơn
    mưa hoa ngũ sắc, hầu như chúng phản ánh sắc màu óng ánh của
    không gian rộng mở trong thân mình.



    Tất cả các dạng hình khác biệt của núi sông, của hoa của đá, cẻ vạn
    sự tan chảy hòa chung làm một và biến mất, để chỉ còn một sự
    chứng thực cái nhất thể uyên nguyên; nó không phải là sự cứng
    nhắc đơn điệu mà chứa đầy sự rung động của sức sống và ánh
    sáng, đầy tiết điệu hoàn hảo, đầy âm thanh của thành hoại, chứa
    dựng lẫn nhau, dung thông cho nhau và cuối cùng tan hòa trong thể
    tịch tịnh vĩ đại”.



    Dòng tâm thức an tịnh,

    tràn ngập niềm an lạc.

    Rỗng rang và trong suốt,

    xuyên suốt cả không gian.

    Đợt sóng vòng tròn nọ,

    không còn nhấp nhô nữa. 

    Như tiết điệu cuối cùng, 

    buổi hòa âm thiên nhạc. 

    Âm thanh đã ngưng bặt, 

    tĩnh lặng thành âm nhạc. 

    Ánh sáng chiếu rực rỡ, 

    bóng tối đã biến mất [3]



    Những biến cố này tuy hiếm có nhưng không phải duy nhất và có lẽ

    tuân theo một qui luật nội tại nào đó, dường như chứa đựng yếu tố
    giống nhau. Thế nhưng linh ảnh tại Tschorten Nyima là một trường
    hợp lạ lùng trong lịch sử các biến cố tâm lý, trong đó linh ảnh này
    không phải chỉ là một sự chứng thực chủ quan của một cá nhân - và
    vì thế không kiểm chứng được - mà được một số lớn nhân chứng
    xác nhận và ghi vào sách vở [4]



    Điều này đã xảy ra sau khi những người hành hương Tschorten
    Nying về lại, trong đó mỗi người kể lại những gì mình nghe thấy,
    theo mô tả của nhân chứng và được sự chấp nhận của vị đạo sư
    (sau khi học trò yêu cầu đã đồng ý) thì những cảnh tượng này đã
    được một nghệ nhân có tài tại Tschorten Nyima vẽ lại trong một bích
    họa lớn tại tu viện ở Dungkar.



    Một trong những nhân chứng của biến cố đáng ghi nhớ này là vị sư
    trưởng cuối cùng của Dungkar Gompa, ông là người lãnh đạo tu
    viện này cho tới khi Tomo Géshé Rimpotsché tái sinh. Không những
    cho chụp hình bức họa quí báu này, ông giải thích mọi chi tiết của
    bức tranh, cũng như kể lại mọi biến cố trong lần đi hành hương đó.
    Ông mô tả mình dã tận mắt thấy như thế nào cũng như kể những
    điều mà ông không đủ sức thấy được, chỉ nghe người khác kể lại.
    Ông nhắc lại sự thực hiếm có là một linh ảnh mà thấy được nhiều
    giờ để cho ai đã thấy đều ghi nhớ sâu xa được, và để cho mọi người
    trao đổi và chỉ dẫn cho nhau.



    Tôi xin nhắc thêm là người Tây Tạng không xem linh ảnh là sự bày
    tỏ thiêng liêng của thực tại cuối cùng mà biết đến tính tương đối và
    nguồn gốc tâm lý của những linh ảnh đó. Trong Đại Thừa Khởi tín

    luận, ta thấy: “Khi người học đạo thấy linh ảnh của thiên thần, Bồ-tát
    và Như Lai, xung quanh là ánh sáng rực rỡ thì họ nên nghĩ rằng, đó
    cũng là do tâm tạo và không có thực tính”.



    Nhưng bao lâu nó còn là sự thực tương đối do tâm tạo tác thì bấy
    lâu sự sáng tạo đó là “thực”, tức là có một năng lực thực. Chúng
    sinh thành và hoại diệt như mỗi một tác phẩm nghệ thuật, chúng
    được sinh ra từ chứng thực cao nhất của tâm và dù chúng không có
    thực tính, không chứa thực tại tự thân thì chúng vẫn chứa những
    biểu tượng, mà dạng của những biểu tượng đó cứ luôn trở lại để chỉ
    đường, để nhắc nhở ta đến cái thành tựu cao tột, đến sự giác ngộ.



    Vì thế trong các kinh sách (nhất là kinh sách Mật tông Tantra) luôn
    luôn ta được nhắc nhở phải tránh hai cực đoan, một bên cho linh
    ảnh của những tầng lớp ý thức cao là thực tại cuối cùng - nếu bị như
    thế ta sẽ vướng nơi chúng và kẹt giữa đường, - còn bên kia phủ
    nhận mọi tính cách có thực của chúng, cho chúng chỉ hoàn toàn do
    tâm tạo. Nếu thế chúng ta sẽ nhận thức sai về vai trò quyết định của
    tâm thức cũng như khả năng tiềm tàng cẻ nó và đánh mất một
    phương tiện quí báu của sự tiến bộ.



    Tomo Géshé rất ý thức về hai cực đoan này của tư tưởng con người
    cho nên khi học trò xin vẽ lại những linh ảnh tại Tschorten Nyima để
    truyền lại cho đời sau thì ông đồng ý nhưng không quên nhắc đến
    sai lầm khả dĩ là, tưởng một dạng xuất hiện nào đó là thực thể cuối
    cùng. Những linh ảnh này đã có ảnh hưởng lớn lao đến Tomo
    Géshé và học trò của ông. Những linh ảnh đó cho ông một thẩm
    quyền mà tại Tây Tạng, các vị tái sinh (Tulku) mới có, đó là những vị

    chứa tâm Bồ-tát, có thệ nguyện kiên định là lấy hiện thân làm sinh
    vật, các vị đó có quyền năng chủ động tái sinh trong tương lại, có
    đầy đủ điều kiện cần thiết, để mang lại lợi ích cho con người.



    Kết quả trực tiếp của linh ảnh tại Tschorten Nyima là Tomo Géshé
    cảm thấy mình không chỉ có trách nhiệm với dân tộc và đất nước
    mình trong việc trao truyền pháp giác ngộ, mà cả thế giới bên ngoài,
    không phân biệt chủng tộc, giai cấp hay tôn giáo. Vì thế mà ông bỏ
    bình nguyên yên tĩnh của mình để đi đến các nước quanh vùng
    Himalaya. Và bất cứ nơi đâu đặt chân đến, ông gieo trồng niềm tin
    và hy vọng trong lòng mọi người. Ông cứu giúp kể bệnh tật chỉ băng
    cách rờ đến họ và bằng sức mạnh tâm ý mình, ông giảng đạo pháp
    thiêng liêng, làm cho họ “vui thích lúc đầu, vui thích lúc giữa, vui
    thích lúc cuối”[5]; ông khai thị cho những ai sẵn sàng đón nhận sự
    thực của Pháp và có khi phải bỏ lại đồ đệ của mình để lên đường
    mang chính pháp đi truyền bá cũng như đã vì thế mà ông đã bỏ
    thung lũng hiền hòa của mình ra đi.

     

     



    TU VIỆN YI-GAH TSCHOLING 



    Để hiểu ý nghĩa của đời sống chúng ta, để nhận rõ những mối dây
    và hình ảnh kỳ lạ đan chằng chịt trong số phận của mình (theo quan
    điểm Phật giáo, đó là kết quả của Nghiệp, tất cả tạo tác của ta trong
    quá khứ), thỉnh thoảng ta phải nhìn lui để thấy những mối dây của
    mạng lưới này, cái mà ta gọi là cuộc đời, xuất phát từ đâu, chạy như
    thế nào. Một cái nhìn, vài tiếng nói vô bổ, vài tiết điệu rời rạc vang

    lên trong một đêm hè yên lặng; một cuốn sách tình cờ đến tay ta,
    một bài thơ, một mùi hương gọi nhớ - tất cả những ấn tượng dường
    như tình cờ đó có thể sinh ra năng lực làm thay đổi và quyết định cả
    cuộc đời tương lai của ta hay là chìa khóa mở ra cho thấy những bí
    ẩn sâu xa nằm trong quá khứ.



    Khi viết những dòng này, xung quanh tôi là mùi hương dầu của loại
    nhang Tây Tạng và gợi cho tôi nhớ lại nơi chốn mà lần đầu tôi ngửi
    đến nó. Tôi thấy mình ngồi trong điện của một tu viện Tây Tạng,
    được chiếu sáng bằng đèn dầu, xung quanh mình là một loạt những
    hình tượng lạ lùng, một số thì hiền hòa an lạc, số khác thì dữ tợn
    phẫn nộ và số khác nữa thì xem ra kỳ dị và bí ẩn. Như xuất phát từ
    cõi không gian nào đầy bóng tối, các hình tượng đó chiếm đầy nội
    thất của ngôi đền. Nhìn tổng thể, hầu như các tượng đó có một sự
    sinh động, một sự hòa điệu giữa màu sắc và tiết điệu, chúng phản
    ánh cái đa diện phong phú của một nhất thể bao trùm.



    Tôi đã vào trú ẩn tại tu viện này trong một ngày dông bão dữ dội, nó
    cắt đứt tất cả mói liên lạc với bên n goài và chôn vùi cảnh vạt mùa
    hè dưới băng tuyết. Sự bất ngờ và năgn lực của trận bão đầy tuyết
    và mưa đá thật lạ lùng, đến nỗi cả người già cả ở vùng này cũng
    chưa hề thấy lần nào tương tự trong đời mình và đối với tôi là kể
    vừa đến từ Sri-Lanka, mang y vàng của một tu sĩ Thượng tọa bộ,
    choàng chiếc khăn nhẹ, chân mang dép mỏng, thì tất cả hiện ra có
    vẻ ma quái hay một cơn mơ kỳ dị.



    Còn tu viện - nằm trên cao dãy Darjeeling, xung quanh là thung lũng
    - trên chỏm núi chơ vơ, như một trái bóng để các đám mây đang

    gàm thét xô đảy, chúng xuất phát từ chiều sâu nào mà mang theo
    hàng ngàn tia chớp và sau đó là một loạt mây từ những đỉnh cao
    băng tuyết Himalaya đổ xuống, sự hỗ độn đến như thế là cùng.
    Tiếng sấm động vang lên không ngừng, tiếng đổ như trống dọi của
    mưa đá trên nóc điện và tiếng gầm rú của dông bão tộn lẫn nhau
    như bản hòa tấu của địa ngục. 



    ***



    Vì sẽ nhiều ngày nên tôi không rời tu viện được, vị sư trưởng vui vẻ
    mời tôi ở cùng phòng với ông. Ông mang cho tôi chăn ấm và cố hết
    sức để tôi được thoải mái. Căn phòng nhỏ vì thế mà quá nóng và
    đầy khói nhang cũng như mùi củi khô mà thỉnh thoảng vị sư trưởng
    ném vào lò sưởi lúc tụng niệm làm tôi hầu như ngạt thở và không
    ngủ được. May thay ngày hôm sau, ông cho tôi về ở góc của tu viện
    lớn này, mà nơi đó có thể băng qua sân tu viện, nó cách ly ngôi đền
    và tòa nhà chính của điện.



    Tại sao tôi lại rời bỏ cuộc sống yên lành tại Sri-Lanka, một thiên
    đường ấm áp để đi vào một vùng ma quái đầy dông bão của
    Himalaya và không khí kỳ lạ của một tu viện Tây Tạng? Chưa bao
    giờ Tây Tạng đóng vài trò gì trong kế hoạch của tôi và có sức thu
    hút tôi. Đối với tôi, Sri-Lanka đã thỏa mãn tất cả sự mơ ước và vì tôi
    đã nghĩ rằng mình sẽ sống tại đó đến cuối đời nên đã xây dựng
    ngay giữa đảo một cái cốc - nằn giữa đường từ Kandy và Nuwara
    Eliya - trong một vùng sơn cước yên lành với mùa xuân trường cửu,
    không bị ánh nắng màu hè và sức lạnh mùa đong xâm phạm, cây
    cối đâm chồi nở lộc quanh năm. Thế nhưng một ngày nọ tôi nhận

    được thư mời tham dự một hội nghị quốc tế về Phật giáo tại
    Darjeeling với tính cách là đại biểu của Sri-Lanka và làm chủ tọa
    điều khiển tiểu ban kinh sách của hội nghị. Mới đầu chần chừ, cuối
    cùng tôi nhận lời tham gia. Tôi được động viên bởi ý nghĩ, đây chính
    là dịp để trình bày giáo pháp thuần túy của Phật đã được Sri-Lanka
    gìn giữ, tại một nơi mà ngôn từ của Phật đã bị một hệ thóng thờ quỉ
    thần và niềm tin sai lạc bóp méo.



    Và bây giờ tôi ở đây, trong xứ sở kỳ dị của Lạt ma giáo, không nói
    được thứ tiếng của họ, không có chút hiểu biết nào về ý nghĩa của
    vô số hình ảnh và biểu tượng, chúng nằm đầy trên các bích họa
    cũng như tượng hình quanh tôi. Chỉ các tượng Phật và Bồ-tát là tôi
    quen. Nhưng khi ngay đó đến, ngày mà bầu tời xanh lại và người ta
    có thể liên lạc với bên ngoài, và không có gì ngăn cản tôi rời
    Darjeeling trở về với Sri-Lanka thoải mái thì tôi không còn muố...
     
    Gửi ý kiến